Bản án 63/2020/HS-ST ngày 23/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 63/2020/HS-ST NGÀY 23/09/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Phan Văn P, sinh năm 1978

- Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp T Q, xã T B, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

- Nghề nghiệp: Làm thuê

- Trình độ học vấn: 9/12.

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

- Con ông Phan Văn B và bà Đặng Thị H

- Nơi đăng ký thường trú: Ấp T Q, xã T B, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

- Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 01 con tên Phan Hoàng Đ, sinh năm 2001 Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh chị em.

- Tiền sự: Không - Tiền án: 01 lần: Ngày 21/10/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm 02 tháng 06 ngày tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 02 tháng kể từ ngày xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, bị can chấp hành xong thời gian thử thách ngày 21/12/2013, hiện tại chưa chấp hành 200.000 đồng tiền án phí hình sự. Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/5/2020, chuyển tạm giam từ ngày 26/5/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cái Bè.

* Người bị hại: Lê Văn B, sinh năm 2001

Địa chỉ: Ấp D C, xã T G T, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Tạm trú: Ấp H P, xã H K, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Dương T, sinh năm 1988

Địa chỉ: Số 468 Nguyễn Đình Chiểu, phường , thành phố T A, tỉnh Long An.

2. Phan Văn T, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp T Q, xã T B, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa; anh B, anh T và anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn P có một tiền án về tội tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích và anh Lê Văn B sinh năm 2001, thường trú ấp D C, xã T G T, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau cùng thuê trọ tại nhà trọ 99999 của bà Phạm Thị B, sinh năm 1950 ở ấp H P, xã H K, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang để đi làm thuê; anh B thuê phòng trọ số 4, còn P thuê phòng trọ số 6. Vào khoảng 19 giờ ngày 18/5/2020, anh B tổ chức tiệc sinh nhật phía trước nhà trọ 99999 và có mời P cùng tham gia.

Khong 22 giờ 30 phút cùng ngày 18/5/2020, sau khi kết thúc buổi tiệc, Ph phụ anh B dọn dẹp, khi dọn dẹp Phúc nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 32GB màu vàng hồng có gắn ốp lưng màu đen và 01 điện thoại di động Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB của anh B đang để trên niệm ngủ trong phòng trọ số 4, lúc này trong phòng không có ai, P nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. P liền đến trộm cắp 02 điện thoại di động bỏ vào túi quần phía trước bên phải và đi về phòng của mình. Sau đó, P lấy quần áo và điều khiển xe mô tô biển số 29H1-177.38 đến thuê trọ tại phường , thành phố T A, tỉnh Long An ở.

Đến khoảng 18 giờ ngày 19/5/2020, P điều khiển xe mô tô biển số 29H1- 177.38 đến cửa hàng điện thoại di động ở số 468, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường , thành phố T A, tỉnh Long An bán cho anh Nguyễn Dương T, sinh năm 1988 (là chủ cửa hàng) 01 điện thoại Vsmart Star 3 màu xanh dương với giá 900.000 đồng, riêng điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 32GB màu vàng hồng, P cất giữ rồi điều khiển xe về nhà trọ ở phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An nghỉ. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh B sử dụng máy tính bản để định vị, nghi P là người lấy trộm 02 điện thoại di động và đang ở nhà trọ tại phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An nên đến trình báo Công an phường 3, thành phố Tân An. Sau đó, Công an phường 3 mời P về trụ sở làm việc thì P đã thừa nhận hành vi phạm tội, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 32GB màu vàng hồng và chỉ chỗ để lực lượng Công an thu giữ 01 điện thoại di động Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB.

Bản kết luận định giá tài sản số 178/KLĐG-TTHS ngày 21/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 32GB màu vàng hồng trị giá 8.810.200 đồng, 01 điện thoại di động Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB trị giá 1.152.000 đồng và 01 ốp lưng điện thoại Iphone màu đen trị giá 35.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 9.997.200 đồng.

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Trong quá trình điều tra, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 32GB màu vàng hồng;

- 01 ốp lưng màu đen;

- 01 điện thoại di động Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB;

- 01 xe mô tô biển số 29H1-177.38;

- Số tiền 1.010.000 đồng.

Ngày 26/5/2020, Cơ quan điều tra đã trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 32GB màu vàng hồng; 01 ốp lưng màu đen và 01 điện thoại di động Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB cho anh Lê Văn B.

Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi bị mất trộm, bị hại đã nhận lại tài sản của mình. Ngoài ra, bị hại còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền thuê xe để đi tìm tài sản đã bị mất là 3.000.000 đồng. Ngày 22/5/2020, em ruột của bị cáo là anh Phan Văn T sinh năm 1987, thường trú ấp T Q, xã T B, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền là 3.000.000 đồng nên bị hại không yêu cầu gì thêm.

- Anh Nguyễn Dương T là người mua điện thoại di động Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB với giá 900.000 đồng. Ngày 20/5/2020, anh Phan Văn T đã thỏa thuận bồi thường cho anh T số tiền 900.000 đồng nên không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSCB ngày 07/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố bị cáo Phan Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “bồi thường thiệt hại” và “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đi với anh Nguyễn Dương T có hành vi mua điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB, nhưng anh T không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè trình bày bản luận tội truy tố bị cáo Phan Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người đúng tội, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nêu lên các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo các qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Về vật chứng đã giao trả cho người bị hại; trách nhiệm dân sự do anh B, anh T và anh T không có yêu cầu nên không có đề nghị gì khác; riêng vật chứng là 01 xe mô tô biển số 29H1-177.38 và số tiền 1.010.000 đồng là của bị cáo, đề nghị tịch thu sung quỹ xe và số tiền 900.000 đồng là tiền bán điện thoại do bị cáo trộm, số tiền còn lại 110.000 đồng giao trả lại cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Bị cáo Phan Văn P thừa nhận vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/5/2020 lợi dụng sự quen biết, thực hiện hành vi lén lút lấy trộm điện thoại di động hiệu Apple và Vsmart Star của anh Lê Văn B tại nhà trọ ở ấp H P, xã H K, huyện C B, tỉnh Tiền Giang; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; theo kết luận số 178/KLĐG- TTHS ngày 21/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận giá trị của tài sản mà bị cáo P trộm cắp có giá tổng cộng là 9.997.200 đồng; do đó có đủ cơ sở xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đủ yếu tố cấu thành phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Bản thân bị cáo có sức khỏe, không cố gắng tạo công việc làm có thu nhập để lo cho bản thân, vì lòng tham mà thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo có ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ; bị cáo có nhân thân xấu, bị xử lý hình sự về hành vi vi phạm pháp luật chưa được xóa án tích, không biết tu dưỡng bản thân, ăn năn hối cải, có ý thức xem thường pháp luật; do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian mới đủ răn đe giáo dục cải tạo bị cáo, có tác dụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả, vật chứng trong vụ án đã được thu hồi, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về vật chứng: Phần nào đã xử lý xong thì không xem xét. Riêng xe môtô biển số 29H1-177.38 không có giấy đăng ký theo qui định, số tiền 1.010.000 đồng tròng đó có số tiền 900.000 đồng bị cáo bán điện thoại trộm được mà có nên tịch thu sung quỹ, còn lại 110.000 đồng là tiền của bị cáo nên được giao trả lại.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thực hiện xong và do anh B, anh T, anh T không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đi với anh Nguyễn Dương T có hành vi mua điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 3 màu xanh dương 16GB, nhưng anh T không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè không có ý kiến gì về vấn đề này, do đó không đặt ra xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1- Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn P 01 (một) năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tch thu sung quỹ xe môtô biển số 29H1-177.38 và số tiền 900.000 đồng. Giao trả lại cho bị cáo P số tiền 110.000 đồng.

4- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phan Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Bị cáo P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh B, anh T, anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai


5
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2020/HS-ST ngày 23/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:63/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về