Bản án 63/2020/HNGĐ-ST ngày 24/09/2020 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 63/2020/HNGĐ–ST NGÀY 24/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 24 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1989. (Vắng mặt).

Trú tại: Số 3/323, ấp Giáp Nước, xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

2/. Bị đơn: Ông Châu Hữu H(Châu Hữu H), sinh năm 1978. (Vắng mặt). HKTT: Ấp 1, xã Tân Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Tạm trú tại: Số 3/323, ấp Giáp Nước, xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C trình bày: Bà và ông Châu Hữu H quen biết nhau hoàn toàn tự nguyện và tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 12/7/2007. Thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm với nhau, do anh Hưởng đi làm rồi nhậu nhẹt về còn đánh bà và khoảng 02 tháng nay thì bà và ông Châu Hữu H không sống chung với nhau. Bà Nguyễn Thị Kim C thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Châu Hữu H.

Về con chung: thời gian chung sống vợ chồng có 03 đứa con chung là Châu Kiều D, sinh ngày 18/9/2007, Châu Khả H, sinh ngày 23/12/2012 và Châu Thành Đ, sinh ngày 14/4/2014, hiện nay các con đều sống với bà. Khi ly hôn tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Châu Thành Đ, còn cháu Duyên và cháu Hân muốn sống với ai thì người đó chăm sóc, nuôi dưỡng, nếu muốn sống với bà thì bà sẽ tiếp tục nuôi dưỡng, sống với ông H thì ông H nuôi dưỡng; không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng không có nợ tài sản gì của ai và không ai nợ tài sản gì của vợ chồng, nên bà Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Biên bản ghi lời khai ông Châu Hữu H: Thừa nhận quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung, nợ chung như bà Chi trình bày, nhưng không đồng ý yêu cầu xin ly hôn của bà Chi do các con còn nhỏ và sẽ sửa đổi; còn các con nêu muốn sống với ai thì người đó chăm sóc, nuôi dưỡng không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Tại Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì bà Nguyễn Thị Kim C vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung: Bà Kim C và ông H chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng đến nay đã xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được, cũng đã sống ly thân một thời gian nhưng không hàn gắn được mâu thuẫn, nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Kim C.

Về con chung: Hiện nay các cháu đang sống với bà Chi, cháu Duyên và cháu Hân có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bà Chi, nên chấp nhận ý kiến của cháu Duyên và Hân nên giao 03 người con chung cho bà Kim C tiếp tục nuôi dưỡng. Do các đương sự không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết.

- Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Thị Kim C phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Kim C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Châu Hữu H có địa chỉ hiện nay tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Theo quy định tại Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu.

[2] Về thủ tục: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 20/8/2020 nộp tại Tòa án, xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của bà Kim C hoàn toàn tự nguyện và không trái với pháp luật, nên được chấp nhận. Ông Châu Hữu H đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập xét xử ngày 07/8/2020 và ngày hôm nay (ngày 24/8/2020) nhưng ông H không đến Tòa án, nên không thể tiến hành hòa giải. Căn cứ vào các Điều 207, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không thể tiến hành hòa giải, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với ông Châu Hữu H.

[3.1] Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H quen biết nhau hoàn toàn tự nguyện và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 12/7/2007. Nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn: Bà Nguyễn Thị Kim C cho rằng chung sống thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm với nhau, do ông H đi làm rồi nhậu nhẹt về còn đánh bà suốt 10 năm qua và khoảng 02 tháng nay thì bà và ông Châu Hữu H không sống chung với nhau, bà Kim C xác định mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn; phía ông H không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Chi. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng giữa bà Kim C và ông H đã xảy ra từ lâu, nhưng cả hai bên đều không có biện pháp giải quyết mà lựa chọn không sống chung nhau và trong khoảng thời gian không sống chung cả hai đều không có biện pháp hàn gắn, ông H bỏ đi không sống chung và không thể hiện thiện chí hàn gắn, thậm chí Tòa án triệu tập ông H đến Tòa án để tiến hành hòa giải, nhưng ông H cố tình không đến Tòa án theo triệu tập. Do đó, mâu thuẫn giữa bà Kim C và ông H đã nghiêm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Kim C là phù hợp.

[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H xác định vợ chồng có 03 người con chung là Châu Kiều D, sinh ngày 18/9/2007, Châu Khả H, sinh ngày 23/12/2012 và Châu Thành Đ, sinh ngày 14/4/2014, hiện nay các con đều sống với bà Chi. Khi ly hôn thì bà Chi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Châu Thành Đ; còn cháu Duyên và cháu Hân muốn sống với ai thì người đó chăm sóc, nuôi dưỡng, nếu các cháu muốn sống với bà thì bà sẽ tiếp tục nuôi dưỡng, sống với ông H thì ông H nuôi dưỡng. Phía ông H cho rằng các con muốn sống với ai thì người đó chăm sóc.

Theo Biên bản ghi lời khai cháu Châu Kiều D và cháu Châu Khả H cùng ngày 28/7/2020 thì đều có yêu cầu được tiếp tục sống cùng bà Chi. Tại Biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì bà Chi cũng đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 người con. Hội đồng xét xử xét thấy các cháu Duyên, Hân và cháu Đạt hiện đang sống cùng với bà Chi, để không làm xáo trộn đời sống của các cháu, nên cần giao cháu Châu Kiều D, cháu Châu Khả H và cháu Châu Thành Đ cho bà Kim C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Kim C và ông H thống nhất không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự, không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, bà Kim C vẫn có quyền yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

[3.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3.4] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H xác định vợ chồng không có nợ tài sản gì của ai và cũng không ai nợ tài sản gì của vợ chồng nên không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình bà Nguyễn Thị Kim C phải nộp theo quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 207, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1./ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với ông Châu Hữu H(Châu Hữu H).

2/. Về con chung: Giao 03 người con chung là Châu Kiều D, sinh ngày 18/9/2007, Châu Khả H, sinh ngày 23/12/2012 và Châu Thành Đ, sinh ngày 14/4/2014 cho bà Nguyễn Thị Kim C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Các cháu Châu Kiều D, cháu Châu Khả H và cháu Châu Thành Đ đang sống cùng bà Nguyễn Thị Kim C nên được giữ nguyên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử ghi nhận không đặt ra giải quyết.

3/. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Châu Hữu H không có nợ tài sản gì của ai và cũng không ai nợ tài sản gì của vợ chồng nên không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5/. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình bà Nguyễn Thị Kim C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Kim C đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006987 ngày 28/7/2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Án sơ thẩm xử công khai, bà Nguyễn Thị Kim C, ông Châu Hữu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2020/HNGĐ-ST ngày 24/09/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:63/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bạc Liêu - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về