Bản án 63/2019/HS-ST ngày 20/08/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH X, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 63/2019/HS-ST NGÀY 20/08/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 8 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Bình X, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2019/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc X, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1996 tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Cam Lâm, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc Nhị và bà Nguyễn Thị Tường; vợ: Ngô Thị Châm; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16 tháng 5 năm 2019 đến nay “có mặt”.

- Bị hại: Anh Phó Ngọc Anh, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2001; trú tại: Thôn Cam Lâm, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Quảng Thị Tr, sinh năm 1972; trú tại: Thôn Cam Lâm, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

Anh Nguyễn Minh Ph, sinh năm 1997; trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Gi, huyện Bình X, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”

Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1990; trú tại: Thôn Minh T, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vũ Ngọc X và Phó Ngọc A là bạn chơi với nhau, X biết Phó Ngọc A có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 88E1-062.77 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Do biết Ngọc Ađang ở quán game “Tuấn net” ở tổ dân phố Tân Hà, thị trấn Gia Khánh nên X gọi điện nhờ anh Nguyễn Văn Cung chở đến quán game “Tuấn net” nhưng X không nói cho anh Cung biết mục đích X đến quán game để làm gì, anh Cung đồng ý. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, X được Cung chở đến quán game “Tuấn net” và thấy Ngọc A đang chơi trong quán, xe mô tô biển kiểm soát: 88E1-062.77 của Ngọc Adựng ở bên ngoài trước cửa quán. X vào quán nét nói với Ngọc A “cho anh mượn xe đi có việc” rồi tự cầm lấy chùm chìa khóa xe máy ở trên bàn để máy vi tính Ngọc A đang chơi và lấy xe đi, Ngọc A tin X nói thật nên đã đồng ý cho X mượn xe. Sau khi lấy được xe, X đến quán ăn đêm của anh Phan Văn Vinh thì gặp bạn là Nguyễn Minh Ph, X hỏi Phúc chỗ cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88E1-062.77 thì Phúc nói với X “Muộn rồi không có chỗ cắm”, X nói với Phúc là X đang cần tiền có việc gấp, năn nỉ nhờ Phúc cho vay tiền và để lại chiếc xe để làm tin, nghe X nói vậy thì Phúc hỏi X “ xe này là của ai, giấy tờ xe đâu” X trả lời “ Xe này là xe của vợ chồng em, giấy tờ xe em để ở nhà, anh cho em vay tiền em để xe lại để làm tin còn giấy tờ xe hôm sau em mang cho anh”. Do tin X nói thật nên Phúc đồng ý và hỏi X: “cần bao nhiêu tiền” thì X nói: “càng nhiều càng tốt”. Sau đó, anh Phúc vay anh Vinh là chủ quán ăn đêm số tiền 4.000.000 đồng đưa cho X. X cầm tiền rồi đi đến nhà chị Đỗ Thị Lan Anh ở thôn Gia Khau, xã Trung Mỹ, huyện Bình X thì gặp Ngọc A và Cung đang chơi ở đó. Tại đây, Ngọc A không thấy xe của mình đâu đã hỏi X “xe em đâu” thì X tiếp tục nói dối Ngọc A là “xe anh cho bạn mượn, nó chưa trả” rồi X nhờ Cung chở X và Ngọc A lên Quán điện tử “Tùng Ốc” ở chợ Vồ, thị trấn Gia Khánh, Bình X, Vĩnh Phúc để X và Ngọc A chơi game. Khi đưa Ngọc A và X đến quán điện tử “Tùng Ốc” thì Cung đi về còn X và Ngọc A vào quán điện tử chơi. Đến khoảng 4giờ ngày 31 tháng 3 năm 2019, X chơi điện tử hết tiền nên tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, màu đỏ của Phó Ngọc A nên X nói với Ngọc Anh: “máy điện thoại của anh hết pin, cho anh mượn điện thoại để anh gọi điện cho bạn đến trả xe”, Ngọc A tin và đưa cho X chiếc điện thoại di động của mình. X lắp sim điện thoại của mình vào điện thoại của Ngọc A rồi giả vờ vừa gọi điện thoại vừa đi ra ngoài rồi đi đến nhà bạn là anh Lương Hồng Linh ở tổ dân phố Cổ Độ, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình X, tỉnh Vĩnh Phúc để ngủ nhờ. Ngọc A ngồi chờ không thấy X quay vào trả điện thoại nên đi tìm X trong các quán điện tử ở gần đó nhưng không thấy. Đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 31 tháng 03 năm 2019 X quay lại quán điện tử “Tùng Ốc” gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Hữu Nam ở thôn Bàn Long, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, bảo Nam đến quán điện tử “Tùng Ốc” gặp X nhờ tý việc. Nam đồng ý đi đến gặp X thì X nhờ Nam đi cầm cố chiếc điện thoại trên và nói dối là điện thoại của mình. Nam hỏi lại X: “sao bạn không đi cắm” X trả lời: “Tôi đang nợ tiền gần đây nên tôi không muốn ra mặt”. Nam tin X nói thật nên đồng ý mang chiếc điện thoại OPPO A3S đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động “Kiên Mobi” ở thị trấn Gia Khánh, Bình X, Vĩnh Phúc do anh Nguyễn Hữu K làm chủ. Nam nói với Kiên đây là điện thoại của mình và hỏi cầm cố được bao nhiêu tiền. Kiên kiểm tra điện thoại và nói “điện thoại này anh chỉ lấy được 1.500.000 đồng” thì Nam đồng ý. Nam không hẹn ngày chuộc lại điện thoại và nhận 1.500.000 đồng từ Kiên rồi về đưa cho X toàn bộ số tiền cầm cố được. Đến khoảng 19 giờ ngày 03 tháng 04 năm 2019 X gọi điện cho Nam nhờ đến quán điện thoại của Kiên để bán chiếc điện thoại và lấy thêm tiền. Nam đồng ý và cùng X đến gặp Kiên. X nói với Kiên “điện thoại hôm trước Nam bán cho anh là điện thoại của em” và bảo Kiên trả thêm tiền. Kiên nể X là người cùng xã với mình nên Kiên trả thêm cho X 300.000 đồng. Toàn bộ số tiền cầm cố chiếc xe mô tô và bán chiếc điện thoại của Phó Ngọc Anh, X đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 6 tháng 4 năm 2019, Phó Ngọc Ađã làm đơn trình báo đến Cơ quan điều tra - Công an huyện Bình X, đồng thời giao nộp 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát: 88E1-062.77 để phục vụ điều tra.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và thu giữ: 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 88E1 – 062.77 do anh Nguyễn Minh Ph giao nộp và 01 điện thoại di động Oppo A3S, do anh Nguyễn Hữu K giao nộp.

Tại Kết luận định giá số 28 ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Bình X đã kết luận: Chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 88E1-062.77 có giá trị: 15.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Oppo A3S có giá trị: 2.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Vũ Ngọc X đã chiếm đoạt của Phó Ngọc Alà 17.800.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 57/CT-VKSBX ngày 23 tháng 7 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình X truy tố Vũ Ngọc X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình X thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc X từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 16 tháng 5 năm 2019.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo là đúng. Nay gia đình anh đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về phần dân sự; về hình phạt anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo, bị hại là đúng. Nay gia đình bà đã nhận lại xe mô tô nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về phần dân sự.

Tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Phúc và anh Kiên đều trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo là đúng. Số tiền anh Phúc cho X vay và X để lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88E1-062.77; số tiền anh Kiên mua điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S của X. Nay anh Phúc, anh Kiên cho X do có mối quan hệ quen biết nên không yêu cầu bị cáo X phải bồi thường về phần dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Vũ Ngọc X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình X. Bị cáo khai nhận như sau: Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên trong hai ngày 30 tháng 3 năm 2019 và ngày 31 tháng 3 năm 2019, Vũ Ngọc X đã dùng thủ đoạn gian dối, hai lần chiếm đoạt tài sản của anh Phó Ngọc Anh, cụ thể:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 2019, tại quán điện tử “ Tuấn net” ở tổ dân phố Tân Hà, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình X, Vũ Ngọc X dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt được 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88E1 – 062.77 của anh Phó Ngọc Anh, trị giá 15.000.000 đồng.

Khoảng 4 giờ ngày 31 tháng 3 năm 2019, tại quán điện tử “ Tùng ốc” ở tổ dân phố Cổ Độ, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình X, Vũ Ngọc X dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S của anh Phó Ngọc Anh, trị giá 2.800.000 đồng.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản X mang đi bán, cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản mà X đã chiếm đoạt được của anh Phó Ngọc Alà 17.800.000 đồng Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình X cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Vũ Ngọc X đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an tại khu vực, gây tâm lý hoang mang nghi ngờ trong quần chúng nhân dân trên địa bàn. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người có nhận thức bình thường, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, bất chấp quy định của pháp luật đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản mục đích để lấy tiền chi tiêu cho bản thân, chứng tỏ bị cáo là kẻ coi thường pháp luật. Nhưng trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ về hành vi bị cáo đã thực hiện như mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88E1-062.77 cùng đăng ký xe và 01 điện thoại di động Oppo A3S, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại. Sau khi nhận tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại di động của Vũ Ngọc X dùng liên lạc với anh Phó Ngọc Ađể thực hiện tội phạm, sau đó X đã làm rơi mất nên cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với anh Nguyễn Văn Cung là người đã đưa Vũ Ngọc X đến gặp Phó Ngọc Atại quán điện tử. Tuy nhiên, X không nói cho anh Cung biết việc X nhờ đưa đi để X chiếm đoạt tài sản của Ngọc Anh; anh Nguyễn Văn Nam là người đã giúp X mang chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S mà X chiếm đoạt của Phó Ngọc Ađi bán. Tuy nhiên, do X nói dối là điện thoại của X, anh Nam không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Cung và anh Nam là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Minh Ph là người cho X vay 4.000.000 đồng và cho X để lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88E1-062.77 để làm tin. Anh Phúc không kinh doanh cầm đồ và do X nói dối đây là xe mô tô của X; anh Nguyễn Hữu K là người đã mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S của X với giá 1.800.000 đồng. Anh Kiên có cửa hàng kinh doanh điện thoại nhưng do X nói dối đây là điện thoại của X; anh Phúc, anh Kiên không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, đã nhắc nhở giáo dục là phù hợp. Đối với số tiền anh Phúc đã cho X vay; số tiền anh Kiên đã trả cho X để mua điện thoại, anh Phúc và anh Kiên cho X do có mối quan hệ quen biết và không yêu cầu bị cáo X phải bồi thường về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc X 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 16 tháng 5 năm 2019.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Ngọc X phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2019/HS-ST ngày 20/08/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:63/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về