Bản án 63/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 63/2019/HS-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Lường Văn T, sinh năm 1983, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản A 3, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 2/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn H và bà Lò Thị M; bị cáo có vợ là Hoàng Thị H và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng. Ngày 26/4/2018 hoàn thành thời gian chữa trị cai nghiện. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2019 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1983, nơi cư trú: Bản A 3, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 30/01/2019, tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Lường Văn T đã phát hiện Lường Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong đựng chất bột màu trắng, Lường Văn T khai là Heroine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng dẫn giải Lường Văn T về Công an huyện M để điều tra làm rõ, tạm giữ của Lường Văn T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn đỏ, biển kiểm soát 26G1-118.02, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Lường Văn T.

Ngày 30/01/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với VKSND huyện M và Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng số ma túy của Lường Văn T, kết quả: Gói chất bột màu trắng thu giữ Lường Văn T có số lượng 0,14 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu “T”. Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 296 ngày 01/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,14 gam; loại Heroine.

Quá trình điều tra Lường Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 30/01/2019 Lường Văn T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn đỏ, biển kiểm soát 26G1-118.02 từ nhà ở của T đến bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên để lấy thuốc ARV, sau khi lấy được thuốc T nảy sinh ý định tìm mua ma túy sử dụng. Sau đó T điều khiển xe máy đến tiểu khu C, thị trấn N để mua ma túy, T vào một lán nương bỏ hoang thì thấy một cháu gái người dân tộc Mông không quen biết khoảng 10 tuổi, T hỏi và mua được của cháu gái đó 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng chất bột màu trắng là Heroine với giá 100.000đ, sau khi bán Heroine cho T cháu gái đó đi ra ngoài, đi đâu T không biết, còn T đặt gói Heroine xuống đất cạnh chỗ T đang ngồi để chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Bản cáo trạng số: 61/CT-VKSMC ngày 03 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Lường Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M giữ nguyên quan điểm truy tố Lường Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1, 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lường Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù; Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,09 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu.

Tạm giữ của gia đình bị cáo 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn đỏ, BKS 26G1-118.02; Số khung: 3614EY006251, số máy: JA36E0020954 xe đã qua sử dụng để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí và hình phạt bổ sung.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà bị cáo Lường Văn T thừa nhận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 30/01/2019 Lường Văn T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,14 gam, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lường Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 14/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra đã thu giữ của gia đình bị cáo 01 xe máy, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo một khoản tiền nhất định là phù hợp.

[4] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,09 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chứng minh thư nhân dân số: 050544625 mang tên Lường Văn T là giấy tờ tùy thân của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã giao trả cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật, do đó cần chấp nhận.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn đỏ, BKS 26G1- 118.02; Số khung: 3614EY006251, số máy: JA36E0020954, xe có gắn 01 gương chiếu hậu bé (xe cũ đã qua sử dụng). Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay xác định là tài sản chung của vợ, chồng Lường Văn T và Hoàng Thị H. Việc bị cáo Lường Văn T sử dụng xe dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm chị Hoàng Thị H không biết và không liên quan. Do đó cần tuyên tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

[5] Đối với cháu gái người dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

[7] Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30/01/2019.

Phạt bổ sung đối với bị cáo là 1.000.000đ (Một triệu đồng).

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lường Văn T, bắt ngày 30/01/2019: Bên trong đựng 0,09 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu.

Chấp nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã trả cho bị cáo 01 chứng minh thư nhân dân số: 050544625 mang tên Lường Văn T.

Tạm giữ của bị cáo Lường Văn T và vợ bị cáo là Hoàng Thị Hiền: 01 chiếc xe máy  nhãn  hiệu  HONDA  BLADE màu sơn đỏ, BKS 26G1-118.02;  Số  khung: 3614EY006251, số máy: JA36E0020954, xe có gắn 01 gương chiếu hậu bé, xe đã qua sử dụng cũ, không kiểm tra máy móc bên trong. Để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí và hình phạt bổ sung.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều  21,  điểm  a  khoản  1  Điều 23  của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lường Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 17/4/2019.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:63/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về