Bản án 63/2019/HS-ST ngày 14/06/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 63/2019/HS-ST NGÀY 14/06/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2019/HSST ngày 07/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2019/QĐXXST-HS ngày 30/5/2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 tại Đồng Nai (có mặt).

HKTT: Tổ 5, ấp 2, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 04/12. Nghề nghiệp: Buôn bán.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1945 (đã chết năm 2019).

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1950.

Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình và có vợ tên là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987. Có 02 người con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/8/2001 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 49/HSST ngày 24/8/2001) Bị cáo tạm giữ từ ngày 31/01/2019 đến ngày 03/02/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Nguyễn Thanh L (tên gọi khác B), sinh năm 1986 tại Đồng Nai (có mặt).

HKTT: Ấp 1, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 05/12. Nghề nghiệp: Không.

Họ và tên cha: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1961 (đã chết). Họ và tên mẹ: Đặng Thị M, sinh năm 1953.

Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình và có vợ tên là Lê Thị T, sinh năm 1992. Có hai người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 31/01/2019 đến ngày 03/02/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Nguyễn Ngọc L (tên gọi khác H), sinh năm 1989 tại Bạc Liêu (có mặt).

HKTT: Ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Chỗ ở hiện nay: Ấp 3, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa. Trình độ học vấn: 03/12. Nghề nghiệp: Làm thuê.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn G, sinh năm 1963 (đã chết).

Họ và tên mẹ: Phan Thị N, sinh năm 1968.

Gia đình bị cáo có 06 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và có chồng tên là Trịnh Ngọc N, sinh năm 1980 (đã ly hôn năm 2010). Có một người con sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 31/01/2019 đến ngày 03/02/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Nguyễn Thị P, sinh năm 1969 tại Đồng Nai (có mặt).

HKTT: Ấp 2, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 05/12. Nghề nghiệp: Buôn bán.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1945 (đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1950.

Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình và có chồng tên là Huỳnh Văn T, sinh năm 1967. Có 02 người con lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2001.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 31/01/2019 đến ngày 03/02/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

5. Nguyễn Thị D (tên gọi khác B), sinh năm 1981 tại Đồng Nai (có mặt).

HKTT: Ấp 3, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 03/12. Nghề nghiệp: Buôn bán.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1953.

Họ và tên mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1953.

Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình và có chồng tên là Lê Đức T, sinh năm 1978. Có 03 người con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 31/01/2019 đến ngày 03/02/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Nguyễn Hứa Giao L, sinh năm 1987 tại Đồng Nai (có mặt).

HKTT: Tổ 4, ấp 6, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 07/12. Nghề nghiệp: Công nhân.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1950.

Họ và tên mẹ: Hứa Kim D, sinh năm 1955.

Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình và có chồng tên là Đặng Hoàng T, sinh năm 1982. Có 03 người con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 31/01/2019 đến ngày 03/02/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

7. Huỳnh Văn T, sinh năm 1967 tại Đồng Nai (có mặt).

HKTT: Ấp 2, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 01/12. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Họ và tên cha: Huỳnh Văn B, sinh năm 1941.

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị E, sinh năm 1945.

Bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị P, sinh năm 1969. Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2001.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 31/01/2019 đến ngày 03/02/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 31/01/2019, tại chòi lá phía sau nhà của Nguyễn Văn T ở ấp 2 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện Long Thành kết hợp với Công an xã A phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T đang đánh bạc bằng hình thức bài “ngầu hầm” 05 lá. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 4.400.000đ, thu giữ số tiền dùng vào việc đánh bạc trên người các bị cáo Nguyễn Hứa Giao L 170.000đ, Nguyễn Thanh L 50.000đ, Nguyễn Thị P 200.000đ. Bà Nguyễn Thị C (mẹ của bị cáo Nguyễn Văn T) tự nguyện giao nộp lại 800.000đ là số tiền do T thu tiền xâu từ việc đánh bạc ngày 31/01/2019 đưa cho bà C, thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá, 01 tấm vải và 01 tấm bạt màu xanh.

Quá trình điều tra xác định, từ ngày 28/01/2019 Nguyễn Văn T rủ những người khác đến chòi lá phía sau nhà của T tại ấp 2 xã A, huyện L để đánh bạc và thu tiền xâu. Lúc 14 giờ 00 phút ngày 31/01/2019, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T đến nhà của T đánh bạc bằng hình thức bài cào 03 lá và bài “ngầu hầm” 05 lá. T sử dụng 2.200.000đ, L sử dụng 900.000đ, P sử dụng 500.000đ, L sử dụng 450.000đ, D sử dụng 400.000đ, L sử dụng 220.000đ và T sử dụng 200.000đ vào việc đánh bạc. T quy định, người làm cầm cái thắng thì T trực tiếp thu tiền xâu 50.000đ, những người tham gia đánh bạc thay nhau làm cái 03 ván, nếu người nào không làm cái thì người tiếp theo làm cái, mỗi ván thấp nhất 50.000đ và cao nhất 200.000đ. Văn T, Thanh L và Ngọc L thay nhau làm cái đến 18 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Long Thành bắt quả tang. Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trên người các bị cáo là 5.620.000đ, tính đến khi bị bắt T thu tiền xâu được 3.000.000đ.

Về vật chứng, tài sản tạm giữ: 01 bộ bài tây 52 lá, 01 tấm chăn, 01 tấm bạt màu xanh và số tiền 5.620.000đ. Ngoài ra trong quá trình điều tra còn tạm giữ của Nguyễn Thị P số tiền 5.000.000đ và tạm giữ của Huỳnh Văn T số tiền 10.000đ các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho các bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSLT ngày 25/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt các bị cáo: Nguyễn Thanh L từ 06 đến 08 tháng tù, Nguyễn Ngọc L từ 06 đến 08 tháng tù, Nguyễn Thị P từ 06 đến 08 tháng tù, Nguyễn Thị D từ 06 đến 08 tháng tù, Nguyễn Hứa Giao L từ 06 đến 08 tháng tù, Huỳnh Văn T từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.620.000đ do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá, 01 tấm chăn và 01 tấm bạt màu xanh và buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp lại 3.000.000đ tiền thu lợi bất chính.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T khai nhận: Từ ngày 28/01/2019 đến ngày 31/01/2019, tại chòi lá phía sau nhà của Nguyễn Văn T ở ấp 2 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo đánh bạc bằng hình thức bài “ngầu hầm” 05 lá. T quy định, người làm cái thắng thì T trực tiếp thu tiền xâu 50.000đ, những người tham gia đánh bạc thay nhau làm cái 03 ván, nếu người nào không làm cái thì người tiếp theo làm cái, mỗi ván đặt tiền thấp nhất là 50.000đ và cao nhất 200.000đ. Ngày 31/01/2019 các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an huyện Long Thành bắt quả tang. Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trên người các bị cáo là 5.620.000đ, tính đến khi bị bắt T thu tiền xâu được 3.000.000đ.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tư, trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hóa của nhân dân. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Xét vai trò, hành vi, tính chất phạm tội của các bị cáo thấy rằng:

- Bị cáo Nguyễn Văn T là người có vai trò chính rủ rê các bị cáo khác phạm tội, bị cáo chuẩn bị phương tiện phạm tội để cùng các bị cáo khác tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền và cũng là người cầm cái trong các ván bạc. Do đó, cần phải có hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa chung, tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

- Các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền và thay nhau làm cái, mặc dù các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc bị pháp luật cấm nhưng các bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải có hình phạt tương xứng với từng bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải , phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng đối với bị cáo không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[5] Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 5.620.000đ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá, 01 tấm chăn, 01 tấm bạt màu xanh theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSLT ngày 02/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành và Biên lai thu tiền số 006770 ngày 03/5/2019, Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp lại 3.000.000đ tiền thu lợi bất chính.

[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hứa Giao L 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 5.620.000đ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá, 01 tấm chăn, 01 tấm bạt màu xanh theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSLT ngày 02/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành và Biên lai thu tiền số 006770 ngày 03/5/2019, Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp lại 3.000.000đ tiền thu lợi bất chính.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị D, Nguyễn Hứa Giao L, Huỳnh Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2019/HS-ST ngày 14/06/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:63/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về