Bản án 63/2017/HNGĐ-ST ngày 31/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 63/2017/HNGĐ-ST NGÀY 31/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 31 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 298/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2017, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/8/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa 54/2017/QĐST-HNGĐ ngày 18/8/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1984 HKTT: Số 74 ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ: Số 64 ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh  năm 1970

Địa chỉ: Số 74 ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Chị H có mặt, anh P vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên Tòa chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn P tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào năm 2008. Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh P thường xuyên uống rượu bia, dùng bạo lực với chị, làm ảnh hưởng đến tinh thần của chị. Hiện chị và anh P đã ly thân từ tháng 10/2015 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên chị xin được ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị và anh P có 03 con chung: Nguyễn Thanh P, sinh ngày 08/3/2009; Nguyễn Hữu P, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 25/4/2014. Nếu ly hôn chị xin được nuôi cháu P. Do cháu P và cháu P đang sống với anh P nên chị đồng ý giao cháu P và cháu P cho anh P nuôi dưỡng. Chị và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Đảm bảo theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh P phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H; giao cháu Nguyễn Tấn P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Thanh P và cháu Nguyễn Hữu P cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung chị H trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên c  u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn c   vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn P hiện đang trú tại: Số 74 ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn c   khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh P đầy đủ, tuy nhiên anh P vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn mất lòng tin vào nhau, anh P còn thường xuyên đánh đập chị H, chị H và anh P đã sống ly thân từ tháng 10/2015 cho đến nay.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh P đến Toà để làm việc, dự phiên họp về tiếp cận, công khai ch  ng c   và hòa giải để hai anh chị có điều kiện gặp gỡ thỏa thuận, đoàn tụ nhưng anh P không đến, ch  ng tỏ anh P không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H.

Theo xác minh tại địa phương, mâu thuẫn vợ chồng có xảy ra, chính quyền địa phương có khuyên giải nhưng không có kết quả. Điều này ch  ng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứvào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là căn c   để Tòa án cho ly hôn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H ly hôn với anh P.

[3] Về con chung: Chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tấn P; cháu Nguyễn Thanh P và cháu Nguyễn Hữu P hiện do anh Phương đang trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó để ổn định cuộc sống cho trẻ, giao cháu Nguyễn Tấn P cho chị H nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Thanh P; Nguyễn Hữu P cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ

- Khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 vàĐiều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

-  Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu H. Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 25/4/2014 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thanh P, sinh ngày 08/3/2009 và cháu Nguyễn Hữu P, sinh ngày 27/3/2012 cho anh Nguyễn Văn Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời chị H và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được ngăn cản quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung của chị H và anh P. Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai thusố 005274 ngày 12/5/2017 tại Chi cục thi hành án huyện Trảng Bom.

4. Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


123
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2017/HNGĐ-ST ngày 31/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:63/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bom - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về