Bản án 622/2019/HS-PT ngày 26/08/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 622/2019/HS-PT NGÀY 26/08/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2019, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 555/2019/TLHS-PT ngày 02 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Lương Xuân C do có kháng cáo của Bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2019/HS-ST ngày 19/06/2019 của Tòa án quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo: ơng Xuân C, sinh năm 1974; Nơi ĐKHKTT: Số 21 T, phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân T (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị V; có vợ là Phạm Thị H và có 01 con chung sinh năm 2016; theo danh chỉ bảng số 420 ngày 14/7/2018 do Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo có 6 tiền án và 3 tiền sự:

Tin sự: năm 1990 đã hết thời hiệu xử lý

Tin án:

- Án số 241/HSST, ngày 30/8/1991, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân ( trị giá tài sản 60.000 đồng).

- Án số 395/HSST từ ngày 24 đến ngày 27/7/1992 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích và phải bồi thường số tiền 907.500 đồng, 15.000 đồng án phí hình sự và 45.375 đồng án phí dân sự. Tại biên bản xác minh ngày 17/9/2018 tại Tòa án nhân dân TP Hà Nội cung cấp: Từ tháng 7/1993, phần thi hành án dân sự đã tách và chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự. Tại biên bản xác minh thi hành án ngày 31/8/2018, tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội cung cấp: Tháng 7 năm 1993, Cơ quan Thi hành án dân sự mới được thành lập. Việc thi hành những bản án xét xử và có hiệu lực trước năm 1993 không thuộc thẩm quyền của Cơ quan thi hành án, vì vậy cơ quan không có căn cứ để xác minh việc chấp hành nghĩa vụ dân sự của bị án.

- Án số 122/HSST ngày 25/01/2000, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản của công dân, quản chế 04 năm tại địa phương và phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 2.627.500 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng, án phí dân sự 150.000 đồng. Tại biên bản xác minh thi hành án ngày 31/8/2018 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội cung cấp: Qua kiểm tra sổ sách không có hồ sơ thi hành án theo quyết định của bản án đối với bị án C vì vậy không có căn cứ để xác minh việc chấp hành nghĩa vụ dân sự của bị cáo.

- Án số 472/HSST ngày 14/4/2000, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, phạt tiền 1.000.000 đồng, phạt quản chế 03 năm, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng. Tại biên bản xác minh thi hành án ngày 31/8/2018, tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội cung cấp: Qua kiểm tra sổ sách không có hồ sơ thi hành án đối với bị án C, vì vậy không có căn cứ để xác minh việc chấp hành nghĩa vụ dân sự của bị cáo.

- Án số 332/2009/HSST ngày 28/10/2009, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản trộm cắp là 100.000 đồng).

- Án số 307/2012/HSST ngày 10/7/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản trộm cắp là 288.000 đồng).Bị cáo ra trại ngày 20/3/2014.

Bị bắt ngày 10/7/2018, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Hà Nội; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 02h15’ ngày 10/07/2018, tổ công tác công an phường Đức Giang đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Lý Sơn - P.Thượng Thanh – Long Biên – Hà Nội phát hiện 03 đối tượng đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành C. Qua kiểm tra, các đố tượng lần lượt khai nhận là Dương Xuân P, Vũ Đình C1 và Nguyễn Thị T SN 1991; HKTT: Thôn T – Xã Q– TP. Tam Điệp – Ninh Bình. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại lòng bàn tay trái của P đang cầm gồm: 01 bao thuốc lá màu xanh nhãn hiệu “555” bên trong có 01 gói giấy màu đen đựng 02 túi nilong chứa hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilong bên trong chứa 01 viên nén màu trắng đục có logo chữ “Y”. P khai nhận các chất trong các túi nilong trên đều là ma túy vừa mua của Lương Xuân C và Phan Thị H tại số nhà 10 ngách 96/71/32 Thượng Thanh- P. Thượng Thanh- Long Biên để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản quả tang đối với P, tạm giữ niêm phong tang vật. Thu giữ của C1 gồm: 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, 01 điện thoại hiệu Philip màu đen và đưa P, C1 và T về trụ sở công an để làm rõ.

Cơ quan điều tra triệu tập đối tượng C - T lên làm việc và tiến hành khám xét nơi ở của C tại số nhà 10 ngách 96/71/32 Thượng Thanh - P. Thượng Thanh- Long Biên nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ti kết luận giám định số 6007 ngày 17/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại methamphetamine, tổng khối lượng: 9,624 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,295 gam.

- 01 viên nén hình tròn màu trắng đục logo chữ Y là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,292 gam.

Ti cơ quan Cảnh sát điều tra Vũ Đình C1, Dương Xuân P, Lương Xuân C, Phan Thị H và Nguyễn Thị T khai nhận: Bản thân C1, P là người nghiện ma tuý, tối ngày 09/7/2018, P sang nhà C1 chơi nên C1 rủ P lên Hà Nội để gặp PC ( là bạn quen biết xã hội của C1). C1 có sử dụng số điện thoại của C1 là 01662993549, 0976161314 để liên lạc với PC số điện thoại 0928781102. Sau đó, C1 gọi điện thoại cho anh Nguyễn Hồng V, SN: 1977, HKTT: Đông Sơn – Tam Điệp – Ninh Bình đi xe ô tô để chở C1, P đi. Khi lên xe C1 bảo với P lên Hà Nội lấy “hàng Lào”, P hiểu ý C1 nói là xuống Hà Nội lấy ma tuý. Trên đường đi C1 gọi điện cho Nguyễn Hồng V ( là bạn quen biết xã hội) rủ đi chơi, T đồng ý, sau đó xe của P, C1 đón T ở khu vực Cầu Mới thuộc tỉnh Ninh Bình rồi tiếp tục lên Hà Nội. Khoảng 0 giờ ngày 10/7/2018, cả ba đến khu vực đường Lý Sơn thuộc tổ 8 – P. Thượng Thanh – Long Biên - Hà Nội, C1 bảo V ngồi đợi ở ngoài, còn C1, P, T xuống xe đi đến nhà của vợ chồng PC, C tại địa chỉ số 10 ngõ 96/71/32 phường Thượng Thanh – Long Biên – Hà Nội. C1 gọi cửa thì Th ( hiện chưa xác định được lai lịch địa chỉ ở đâu) ra mở cửa. Khi C1, P, T vào trong nhà thì thấy C và Th đã chuẩn bị trước 1 coóng T tinh cùng ma túy đá ở trên bàn nên cả 05 người cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma tuý xong, C1 hỏi mua ma tuý thì Th đứng dậy đi lấy ma tuý. Khoảng 3 phút sau, Th quay trở lại cầm 01 túi ni lông màu đen đưa cho C. Sau đó C lấy từ trong túi ni lông màu đen trên ra 04 gói túi ni lông chứa ma tuý đá rồi để trên bàn. C1 cầm 04 gói ma tuý lên xem và hỏi C giá tiền 04 gói ma tuý này, C bảo không biết giá mà phải chờ hỏi PC. Khoảng 02 tiếng sau, PC về cùng với Lh ( là bạn quen xã hội, hiện không rõ tên tuổi, địa chỉ ở đâu), PC ngồi xuống bàn cùng C1, C để bàn bạc còn P nằm ở đệm gần đó, T ngồi chơi điện thoại cách chỗ C ngồi khoảng 1-2m. C1 hỏi giá của 04 gói ma tuý ở trên bàn thì PC bảo giá 3.500.000 đồng / túi. C1 mua 02 túi ni lông ma tuý đá với tổng số tiền là 7.000.000 đồng. C1 cầm tiền đặt lên bàn, C cầm số tiền lên đếm sau đó trả lại cho C1 500.000 đồng tiền thừa. Sau đó C1 tiếp tục mua của PC 01 túi ni lông bên trong chứa ma tuý ketamine và 01 túi ni lông bên trong chưa 01 viên ma tuý tổng hợp với tổng số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý C1 dùng băng dính quấn lại 02 gói ma tuý đá lại rồi đút và trong bao thuốc lá 555 cùng với 01 gói ma tuý ketamine và 01 túi ni lông bên trong chứa 01 viên ma tuý tổng hợp. Sau đó C1 đưa bao thuốc lá chứa ma tuý trên cho P cầm, sau đó P lên xe máy của Th đi ra khu vực xe ô tô của V đang đỗ, còn C1 và T đi sau. Khi C1, P, T đang đi bộ đến xe ô tô của V đang đứng chờ thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện bắt qủa tang và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an giải quyết.

Trong quá trình điều tra, Dương Xuân P khai nhận: Trên đường đi P biết việc C1 lên Hà Nội để C1 mua ma tuý về sử dụng và P cũng nhận thức rõ trong vỏ bao thuốc lá 555 mà C1 đưa bên trong có chứa ma tuý vì P nhìn thấy C1 cho ma tuý mua được vào bên trong khi còn đang ở trong nhà C – PC.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Lương Xuân C khai nhận C là người bảo Th xuống bếp lấy ma tuý cho C1, sau đó C thay đổi lời khai là Th tự xuống bếp lấy ma tuý cho C1. Lúc Th lấy ma tuý C chỉ biết đó là một túi màu đen nhưng C không biết bên trong có những gì. Ngoài ra, khi C1 và PC đang giao dịch mua bán ma tuý C không tham gia mua bán ma túy, mà việc PC và C1 giao dịch mua bán ma túy và nguồn gốc số ma túy khi công an thu giữ. Nhưng căn cứ vào lời khai của các bị cáo PC, C1, P và người liên quan T khẳng định C là người chuẩn bị trước ma túy đá để cùng nhau sử dụng chung, C là người bảo Th đưa ma túy cho C1 và việc giao dịch mua bán ma túy giữa PC và C1 đều có mặt C chứng kiến và là người trưc tiếp đếm tiền khi C1 mua ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa C với C1 và P và đều khẳng định C là người đặt 04 gói ma tuý đá trong túi ni lông màu đen xuống bàn để bán cho C1.

Tiến hành tra cứu số thuê bao điện thoại 01662993549, 0976161314 mà C1 sử dụng để liên lạc với PC đều xác định chủ thuê bao là Vũ Đình C1. Tiến hành tra cứu số thuê bao 0928781102 mà PC sử dụng tại Tổng công ty cổ phần viễn thông Hà Nội không xác định chủ thuê bao nhưng quá trình điều tra PC thừa nhận có sử dụng số điện thoại trên để liên lạc với C1 và các nhật ký điện thoại đều thể hiện giữa C1 và PC có liên lạc với nhau.

Bn cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 09-01-2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố các bị cáo Phan Thị H, Lương Xuân C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015; truy tố các bị cáo Vũ Đình C1 và Dương Xuân P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Ti bản án số 142/2019/HS-ST ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố: Lương Xuân C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

Áp dụng: Căn cứ Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015.

Xử phạt: Lương Xuân C 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/7/2018.

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, phần án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 23/6/2019, bị cáo Lương Xuân C đã có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ti phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lương Xuân C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận bị cáo là người đếm tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết:

- Về đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung: Bị cáo Lương Xuân C có hành vi đồng phạm mua bán 9,624 gam "Mua bán trái phép chất ma túy". Hội đồng xét xử sơ thẩm xử bị cáo Lương Xuân C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" là có căn cứ. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Lương Xuân C 09 (Chín) năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Xuân C. Giữ nguyên bản an sơ thẩm.

Áp dụng: điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Lương Xuân C 09 (Chín) năm tù. Thơi hạn từ tính từ ngày bị bắt ngày 10/7/2018.

c quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Lương Xuân C trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo Lương Xuân C, lời khai của các bị cáo Phạm Thị Hồng PC, Vũ Đình C1, Dương Xuân P phù hợp với biên bản kiểm tra hành C, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 2h30’ ngày 10/7/2018 tại khu vực trước cửa số nhà 10 ngõ 96/72/31 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội Phan Thị H và Lương Xuân C có hành vi bán trái phép cho Vũ Đình C1 9,624gam Methamphetannine; 0,295gam Ketamin và 0,292gam ma túy loại MDMA mục đích để C1 sử dụng cho bản thân. Sau đó C1 đưa số ma túy trên cho Dương Xuân P tàng trữ trái phép nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của Lương Xuân C đã bị Hội đồng xét xử sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Lương Xuân C, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo Lương Xuân C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến C sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Bị cáo biết rõ việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật và bị cáo đã được các cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Lương Xuân C và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Lương Xuân C 09 (Chín) năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

c quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của Lương Xuân C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 142/2019/HS-ST ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội về phần quyết định hình phạt.

Tuyên bố: bị cáo Lương Xuân C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lương Xuân C, 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/7/2018.

c quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vê án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm.

Bn án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 622/2019/HS-PT ngày 26/08/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:622/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/08/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về