Bản án 61/2020/HSST ngày 19/05/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 61/2020/HSST NGÀY 19/05/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2020/HSST ngày 24/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐXXST-HS ngày 05/5/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, sinh năm 1991 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn R và bà: Phan Thị M; Tiền án, tiền sự: có 03 tiền án:

- Ngày 20/6/2008, Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội xử phạt 04 tháng cải tại không giam giữ về tội “Hủy hoại tài sản”. Trị giá tài sản dưới 2.000.000đồng, (đã được xóa án tích).

- Ngày 28/9/2009, Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tại bản xác minh thi hành án ngày 10/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ xác định bị cáo đã chấp hành các Quyết định khác của bản án, (đã được xóa án tích).

- Ngày 27/02/2017, Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2018. Án tích chưa được xóa.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/12/2019; Tạm giam ngày 04/01/2020 tại Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hà Nội; Số giam: 728V1/B06.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm1988; Trú tại: Thôn T, xã N, huyện Đ, Thành phố Hà Nội - Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Lê Tuấn A sinh năm 1990; Trú tại: Thôn B, xã K, huyện Đ, Thành phố Hà Nội - Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h30’ ngày 28/12/2019, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện Đông Anh phối hợp với Công an xã K, huyện Đ làm nhiệm vụ tại khu vực gầm cầu vượt đường Hoàng Sa thuộc thôn B, xã K, huyện Đ, Thành phố Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn T và Lê Tuấn A đang ngồi dưới gầm cầu có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại vị trí Nguyễn Văn T và Lê Tuấn A đang ngồi gồm có:

- 01 mảnh giấy ăn đã qua sử dụng;

- 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (1,5 x 1,5)cm đã qua sử dụng;

- 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu xanh, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống nhựa dài 40cm;

- 01 Coóng thủy tinh và 01 bật lửa gas.

Ngoài ra còn tạm giữ của Lê Tuấn A: 01 điện thoại di động, lắp sim thuê bao: 0978546116.

Nguyễn Văn T và Lê Tuấn A khai nhận, cả hai vừa sử dụng ma túy bằng các dụng cụ nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 119/KLGĐ - PC09 ngày 04/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận: 01 mảnh giấy ăn, 01 Coóng thủy tinh và 01 túi nilon màu trắng đều dính ma túy loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Điều tra, Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 17h40’ngày 28/12/2019 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên cả hai cùng rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng chung. Sau đó, Lê Tuấn A gọi điện từ số thuê bao 0978546116 của Tuấn A đến số thuê bao 0969330318 của Nguyễn Đức H để đặt vấn đề mua 03 viên ma túy “Ngựa” với giá 100.000đồng/1viên, Nguyễn Đức H đồng ý và hẹn Lê Tuấn A đến nhà của mình để giao dịch mua bán. Khi đến cổng nhà, Lê Tuấn A gọi điện báo cho H biết. Một lúc sau, H đi thi gặp Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T tại khu vực ngã tư gần cổng nhà H. Tại đây, Lê Tuấn A đưa cho Nguyễn Đức H 300.000 đồng và nhận lại từ H 01 túi nilon bên trong chứa 03 viên ma túy “Ngựa”. Ngay lúc này, Nguyễn Văn T tiếp tục bảo Nguyễn Đức H bán cho mình 02 viên ma túy “Ngựa” và đưa cho Tuấn A 200.000 đồng để Lê Tuấn A đưa cho H. H đã cầm tiền đi vào nhà sau đó đi ra đưa cho Lê Tuấn A 01 tờ giấy ăn bên trong có 02 viên ma túy “Ngựa”. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Văn T và Lê Tuấn A đi đến gầm cầu vượt đường Hoàng Sa để sử dụng ma túy, khi cả hai vừa sử dụng hết số ma túy mua được của Nguyễn Đức H thì lực lượng Công an phát hiện. Ngày 28/12/2019 là lần đầu tiên Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T mua ma túy của Nguyễn Đức H.

Căn cứ lời khai của Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T cùng các tài liệu điều tra thu thập được, ngày 29/12/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đông Anh đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức H tại thôn H, xã K, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. (Tại thời điểm khám xét có Hiếu và Đỗ Văn Tr, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn H, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội đang ở trong phòng ở của Hiếu), đã phát hiện thu giữ gồm:

- 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1,5 x 1,5)cm bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng;

- 01 túi nilon màu xanh, kích thước (05 x 08)cm bên trong có 47 viên nén hình trong màu hồng và 01 viên nén hình tròn màu xanh;

- 01 hộp hình tròn bằng kim loại, màu đỏ, đường kính 20cm bên trong có: 12 túi nilon đã qua sử dụng (trong đó: 01 túi màu xanh, kích thước (05 x 08)cm, 11 túi màu trắng, kích thước (1,5 x 1,5)cm) và 01 Coóng thủy tinh đã qua sử dụng;

- 01 chai nhựa màu trắng trên nắp chai gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa dài khoảng 70cm;

- 01 cân điện tử, màu đen - bạc, kích thước (1,5 x 06 x 03)cm;

- 01 viên nén hình tròn, màu hồng dưới đệm ngủ trên nền phòng.

Ngoài ra tạm giữ của Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, lắp thẻ sim có số thuê bao: 0865870640; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstell, lắp 01 thẻ sim có số thuê bao: 0969330318 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, lắp 01 thẻ sim có số thuê bao: 0981495239.

- Tạm giữ của Đỗ Văn Tr: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, lắp 01 thẻ sim có số thuê bao: 0971745189 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0985202532.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong sau đó đưa Hiếu cùng những người có liên quan về trụ sở để tiếp tục làm rõ.

Tại bản kết luận giám định số 161/KLGĐ - PC09 ngày 06/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

- 50 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng: 4,881 gam.

- 01 viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng 0,092 gam, không phải là ma túy.

- 01 coóng thủy tinh và 01 cân điện tử màu đen bạc đều có dính ma túy loại Methamphetamine.

- 11 túi nilon màu trắng và 01 túi nilon màu xanh đều có dính ma túy loại methamphetamine. Tại Cơ quan Điều tra, vào các ngày 29/12 và 30/12/2019 Nguyễn Đức H không khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T. Sau đó, H thay đổi lời khai và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và phù hợp với lời khai của Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T. Số tiền bán ma túy cho Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T, H đã tiêu sài hết.

Ngày 29/12/2019, khi H và bạn gái là Huỳnh Thị Thu Th sinh năm1993; Trú tại: thôn L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh đang ngủ trong phòng thì Đỗ Văn Tr đến chơi. Th đi ra ngoài, còn H và Tr ở trong phòng. Khi H vừa bỏ ma túy cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra để rủ Tr cùng sử dụng thì lực lượng Công an đến khám xét và phát hiện. Số ma túy bán cho Lê Tuấn A, Nguyên Văn T và bị công an thu giữ là H mua của một người đàn ông tên là Vũ vào ngày 27/12/2019 tại nhà của H với giá 2.000.000 đồng. H đã sử dụng hết một phần và bán cho Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T một phần, số ma túy còn lại H cất giấu để sử dụng và bán cho khách để kiếm lời.

Cơ quan Điều tra đã tiến hành dẫn giải Nguyễn Đức H, Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T đi xác định địa điểm mua bán ma túy ngày 28/12/2019. Kết quả cho thấy đều phù hợp với lời khai nhận của các đối tượng.

Tại Cơ quan Điều tra Huỳnh Thị Thu Th và Đỗ Văn Tr khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Đức H. Việc H cất giấu và bán trái phép ma túy cho Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T thì Th và Tr không biết. Ngoài ra, Tr còn khai nhận đã sử dụng ma túy cùng với H tại phòng ở của H.

Người đàn ông tên Vũ bán ma túy cho H. Do Hiếu khai không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ.

Huỳnh Thị Thu Th và Đỗ Văn Tr, kết quả điều tra xác định không liên quan đến việc mua bán ma túy giữa Nguyễn Đức H, Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T nên Cơ quan Điều tra không đề cập xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 61/CT - VKS ngày 24/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố Nguyễn Đức H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận Nguyễn Đức H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt Nguyễn Đức H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Văn T bên trong có: 01 cóong thủy tinh và 01 mảnh giấy ăn có dính ma túy methamphetamine. - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Lê Tuấn A bên trong có: 01 túi nilon màu trắng (1,5 x 1,5) có dính ma túy methamphetamine.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Đức H bên trong có: 50 viên nén màu hồng là ma túy loại methamphetamine có tổng khối lượng sau giám định là 4,503 gam; 01 viên nén hình tròn màu xanh không phải là ma túy có khối lượng sau giám định là 0,046 gam.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Đức H bên trong có: 01 cóong thủy tinh, 01 cân điện tử màu đen đều dính ma túy loại methamphetamine; 11 túi nilon màu trắng, 01 túi nilon màu xanh đều dính ma túy loại methamphetamine.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa màu trắng trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút; 01 bật lửa gas; 01 hộp hình tròn bằng kim loại màu đỏ, đường kính 20cm; 01 chai nhựa màu trắng trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa dài 70cm.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstell, màu đen, lắp 01 thẻ sim có số thuê bao: 0978546116; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstell, màu xanh, lắp 01 thẻ sim có số: 0969330318; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, lắp 01 thẻ sim có số: 0981495239 và 01 thẻ sim số: 0865870640.

+ Buộc bị cáo truy nộp ngân sách Nhà nước 500.000 đồng tiền thu lời bất chính.

[5] Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 18h00 ngày 28/12/2019, tại trục chính đường thôn H, xã K, huyện Đ, Thành phố Hà Nội gần nhà ở của Nguyễn Đức H. Nguyễn Đức H đã thực hiện hành vi bán trái phép 03 viên ma túy “Ngựa” cho Lê Tuấn A với giá 300.000 đồng và sau đó tiếp tục bản 02 viên ma túy “Ngựa” cho Nguyễn Văn T với giá 200.000 đồng nhằm mục đích thu lời bất chính.

Như vậy trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã liên tục thực hiện nhiều hành vi bán trái phép chất ma túy cho nhiều người. Do đó hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;”

Hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với sức khỏe con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành nên nhận thức được hành vi của mình và biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng nên buộc bị cáo phải nhận thức được hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để xử phạt các tội phạm về ma túy.

Bởi vậy đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung.

Buộc bị cáo truy nộp ngân sách Nhà nước 500.000 đồng tiền thu lời bất chính theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

[2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Ngày 27/02/2017, Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt 30 tháng tù của bản này ngày 05/11/2018. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thì bản án này chưa được xóa án tích. Do vậy lần phạm tội này của bị cáo được xác định là Tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đức H, do Hiếu khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có căn cứ để làm rõ. Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T quá trình điều tra xác định mục đích mua ma túy để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn Tr, Lê Tuấn A và Nguyễn Văn T đã vi phạm vào khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, nên Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel tạm giữ của anh Tr; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo tạm giữ của Nguyễn Đức H, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn K (anh trai H) và của anh Đỗ Văn Tr, không liên quan đến vụ án nên ngày 18/3/2020 Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, phù hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Văn T bên trong có: 01 cóong thủy tinh và 01 mảnh giấy ăn có dính ma túy methamphetamine; 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Lê Tuấn A bên trong có: 01 túi nilon màu trắng (1,5 x 1,5) có dính ma túy methamphetamine; 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Đức H bên trong có: 50 viên nén màu hồng là ma túy loại methamphetamine có tổng khối lượng sau giám định là 4,503 gam; 01 viên nén hình tròn màu xanh không phải là ma túy có khối lượng sau giám định là 0,046 gam; 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Đức H bên trong có: 01 cóong thủy tinh, 01 cân điện tử màu đen đều dính ma túy loại methamphetamine; 11 túi nilon màu trắng, 01 túi nilon màu xanh đều dính ma túy loại methamphetamine; 01 chai nhựa màu trắng trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút; 01 bật lửa gas; 01 hộp hình tròn bằng kim loại màu đỏ, đường kính 20cm; 01 chai nhựa màu trắng trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa dài 70cm là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstell màu đen, lắp 01 thẻ sim có số thuê bao: 0978546116 ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstell màu xanh, lắp 01 thẻ sim có số: 0969330318; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp 01 thẻ sim có số: 0981495239 và 01 thẻ sim số: 0865870640. Bị cáo và Lê Tuấn A đã xử dụng vào việc “Mua bán trái phép chất ma túy” cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra - Công an huyện Đông Anh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đẩy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ vào:

- Điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí, Lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Nguyễn Đức H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2019.

- Buộc bị cáo truy nộp ngân sách Nhà nước 500.000 đồng tiền thu lời bất chính.

- Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Văn T bên trong có: 01 cóong thủy tinh và 01 mảnh giấy ăn có dính ma túy methamphetamine.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Lê Tuấn A bên trong có: 01 túi nilon màu trắng (1,5 x 1,5) có dính ma túy methamphetamine.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Đức H bên trong có: 50 viên nén màu hồng là ma túy loại methamphetamine có tổng khối lượng sau giám định là 4,503 gam; 01 viên nén hình tròn màu xanh không phải là ma túy có khối lượng sau giám định là 0,046 gam.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Cán bộ niêm phong và của Nguyễn Đức H bên trong có: 01 cóong thủy tinh, 01 cân điện tử màu đen đều dính ma túy loại methamphetamine; 11 túi nilon màu trắng, 01 túi nilon màu xanh đều dính ma túy loại methamphetamine.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa màu trắng trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút; 01 bật lửa gas; 01 hộp hình tròn bằng kim loại màu đỏ, đường kính 20cm; 01 chai nhựa màu trắng trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa dài 70cm.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstell màu đen, lắp 01 thẻ sim có số thuê bao: 0978546116; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstell màu xanh, lắp 01 thẻ sim có số: 0969330318; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp 01 thẻ sim có số: 0981495239 và 01 thẻ sim số: 0865870640.

Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 24/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về