Bản án 61/2020/HSPT ngày 20/02/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 61/2020/HSPT NGÀY 20/02/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2020/HSPT ngày 07 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Vi Văn T, do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 75/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo không kháng cáo: Vi Văn T, sinh năm 1983; ĐKHKTT và chỗ ở: huyện T, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; trình độ văn hóa: 9/12, nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Vi Quốc H và bà: Trần Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam ngày 27/4/2019 cho đến nay; có mặt.

Ngưi đại diện hợp pháp: Ông Vi Quốc H, 1954 (Bố đẻ).

Địa chỉ: huyện T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Ngưi bào chữa của bị cáo: Ông Trịnh Đình H - Trợ giúp viên Pháp lý- Trung tâm Trợ giúp nhà nước tỉnh Thanh Hóa (Có văn bản bào chữa vắng mặt).

Ngưi bị hại kháng cáo: Anh Lê Văn Q, 1969 (có mặt).

Địa chỉ: huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 05/12/2018, anh Lê Văn Q, sinh năm 1969, trú tại huyện T cột trâu của nhà mình tại vườn phía sau nhà. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Vi Văn T là hàng xóm thấy trâu của nhà anh Qu sang vườn nhà T ăn cỏ và sắn nên T gọi anh Q nhưng không thấy trả lời. Bực tức T vào nhà lấy một con dao, dạng dao năm (dài 49cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, phần rộng nhất 5cm, hẹp nhất 3cm) đi ra vườn. Lúc này thấy anh Q đi ra nên giữa T và anh Q cãi nhau về việc trâu nhà anh Q sang ăn sắn trong vườn nhà T. Khi anh Q và T đứng đối diện với nhau thì T cầm dao bằng tay trái chém một cái từ trên xuống về phía anh Q, Q giơ tay trái lên đỡ nên bị chém trúng tay trái, đồng thời tay phải của Q cầm một đoạn thân cây sắn đánh về phía vùng mũi, vai trái của T, đoạn thân cây sắn bị gãy nên Q vứt đoạn cây sắn còn lại xuống rồi bỏ chạy sang vườn nhà bà T (hàng xóm). Chạy được một đoạn thì anh Q bị ngã, lúc này T đuổi kịp nên dùng dao chém một cái từ trên xuống vào vùng đầu của Quang, sau đó T dùng phần sống dao đánh 02 cái vào tay, chân của Q. Lúc này có anh Nguyễn Hồng C, sinh năm 1980 là hàng xóm chạy đến dùng đoạn thân cây sắn giơ lên dọa T thì T cầm dao bỏ về nhà. Sau đó anh C đưa anh Q vào bệnh viện đa khoa huyện T sơ cứu vết thương, sau đó anh Q được đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa phẫu thuật và điều trị đến ngày 13/12/2018 xuất viện.

Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể lập ngày 05/12/2018 tại Bệnh viện đa khoa huyện T, xác định thương tích của Lê Văn Q như sau:

- 01 vết rách da chảy máu tại vùng đỉnh trán đa khâu xử lý, kích thước dài 10cm, bờ mép sắc gọn;

- 02 vết rách da chảy máu tại 1/3 mặt sau cẳng tay trái kích thước lần lượt 02cm và 1,5cm, đã khâu xử lý;

- 01 vết rách da chảy máu tại 1/3 mặt trước cẳng chân trái kích thước 1,5cm, đã khâu xử lý;

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 98/2019/TTPY ngày 01/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:

Hiện tại tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với Lê Văn Q do thương tích gây được tính theo phương pháp xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể là: 35%.

Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 05/12/2018 tại thôn Đ, xã T xác định thương tích của Vi Văn T:

Tại sống mũi có 01 vết xước da nham nhở kích thước 1,5 x 0,2cm; bả vai trái có 01 vết sưng nề kích thước 3 x 4cm; tại mặt trên ngón 4 bàn tay phải có vết rách nham nhở, kích thước 1 x 1cm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với Vi Văn T nhưng bị cáo từ chối giám định và không đề nghị bồi thường dân sự.

Bị cáo Vi Văn T hiện đang được hưởng chế độ trợ cấp xã hội dành cho người khuyết tật đặc biệt nặng và ngày 30/7/2018 Bệnh viện tâm thần Thanh Hóa cấp Bệnh án tâm thần cộng đồng với chẩn đoán: Động kinh.

Ngày 16/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Vi Văn T.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 301/KLGĐ ngày 27/8/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận:

Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Vi Văn T có bệnh động kinh toàn thể cơn lớn có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6. Tại thời điểm trên bị cáo có đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Anh Lê Văn Q yêu cầu bị cáo bồi thường tổng chi phí điều trị sức khỏe là: 43.000.000đ.

Vật chứng vụ án: 01 con dao loại dao năm, dài 49cm, phần cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại tối màu, phần rộng nhất 5cm, hẹp nhất 2cm, đang được thu giữ và quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2019/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T đã Quyết định:

Tuyên bố: Vi Văn T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, điểm p, điểm q, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Vi Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tình từ ngày 27/4/2019. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 21.220.000đ, đã bồi thường 5.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 16.220.000đ; tuyên xử vật chứng; án phí và giành quyền kháng cáo.

Ngày 09 tháng 12 năm 2019, bị hại Lê Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo Vi Văn T được hưởng án treo với lý do:

Bản án sơ thẩm xử phạt Vi Văn T 05 năm tù là quá cao, hoàn cảnh bố mẹ bị cáo đau ốm thường xuyên, nếu bị cáo đi chấp hành sẽ rất khó khăn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại Lê Văn Q làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo Vi văn T là người có nhược điểm về tâm thần, thuộc trường hợp được chỉ định người bào chữa. Tại phiên tòa phúc thẩm, Trợ giúp viên pháp lý của bị cáo Vi Văn T vắng mặt, nhưng đã có văn bản bào chữa gửi Hội đồng xét xử phúc thẩm và có mặt ông Vi Quốc H (Bố đẻ của Vi Văn T) là người đại diện hợp pháp cho bị cáo, do đó vụ án được tiến hành xét xử theo quy định [2] Nguyên nhân dẫn đến vụ án chỉ từ mâu thuẫn nhỏ do việc trâu của hàng xóm (bị hại Lê Văn Q) sang vườn nhà bị cáo ăn sắn, hai bên có lời qua tiếng lại, bị cáo đã dùng con dao năm chém một nhát từ trên xuống về phía bị hại, anh Quang giơ tay lên đỡ bị chém trúng tay và dùng cây sắn đánh lại bị cáo sau đó bỏ chạy, bị cáo đuổi theo khi anh Q bị vấp ngã bị cáo tiếp tục chém vào đầu và dùng sống dao đánh vào chân, tay của bị hại gây các vết thương tại vùng đỉnh trán, cẳng tay trái và cẳng chân trái cho anh Q.

Do bị cáo có hành vi dùng con dao năm là “hung khí nguy hiểm” gây tổn hại cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 35%, do đó bị cáo Vi Văn T bị truy tố, xét xử về tội “gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm đã xử là có căn cứ, đúng người đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị hại xin giảm hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo thấy rằng:

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm thân thể làm tổn hại đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên phải xử lý nghiêm.

Khi quyết định hình phạt, bị cáo Vi Văn T đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo” là đúng; tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm đã dụng tình tiết “là người bị bệnh hạn chế khả năng điều khiển hành vi” (bệnh động kinh toàn thể cơn lớn có biến đổi nhân cách) theo điểm s, nhưng vẫn áp dụng thêm tình tiết “người khuyết tật nặng” tại điểm p khoản 1 Điều 51 là không đúng; ngoài ra, tại giai đoạn sơ thẩm gia đình bị cáo mới chỉ bồi thường cho bị hại 5.000.000đ/21.220.000đ (chưa được ½) nên chưa đủ điều kiện áp dụng tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” theo điểm b khoản 1 mà chỉ được áp dụng tình tiết theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Sau khi bị chém nhát đầu tiên, anh Q đã bỏ chạy, bị cáo tiếp tục cầm dao đuổi theo và khi anh Q bị ngã thì bị cáo đã cầm dao chém tiếp vào đầu và dùng sống dao đánh vào tay, vào chân của bị hại (theo anh Q mặc dù anh đã quỳ xuống van xin bị cáo). Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” như bản án sơ thẩm đã nhận định và cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội là đúng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo được anh Lê Văn Q làm đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo, ngoài ra anh Q xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường thêm 9.000.000đ, như vậy tổng số tiền gia đình bị cáo đã bồi thường được 14.000.000đ/21.220.000đ. Về hoàn cảnh của bị cáo hiện nay cũng rất khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo (có xác nhận của Chính quyền địa phương). Đây là các tình tiết được xem xét tại cấp phúc thẩm theo điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị hại và quan điểm của Kiểm sát viên giảm một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.

[4] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về hình phạt nên bị cáo và người bị hại kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Lê Văn Q, sửa bản án sơ thẩm số 75/2019/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T về hình phạt đối với bị cáo Vi Văn T.

Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, điểm q, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Vi Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tình từ ngày tạm giam 27/4/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Lê Văn Q số tiền 14.000.000đ, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 7.220.000đ (Bảy triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Anh Lê Văn Q được liên hệ nhận số tiền 5.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số AA/2011/00380 ngày 25/11/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Bị cáo, người bị hại kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.


34
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2020/HSPT ngày 20/02/2020 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:61/2020/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/02/2020
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về