Bản án 61/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 61/2019/HS-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2019 đối với:

- Bị cáo: HÀ VĂN Đ - sinh năm: 1992 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xóm Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T - sinh năm 1968 và bà Hà Thị A - sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.

Tiền án: Có 03 tiền án.

1. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2012/HSST ngày 21/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đ 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2012/HSST ngày 26/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đ 24 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án hình sự sơ thẩm số 10/2012/HSST ngày 21/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn là 4 tháng 01 ngày tù, buộc Đ chấp hành hình phạt chung là 28 tháng 01 ngày tù của hai bản án.

3. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 125/2016/HSST ngày 26/5/2016 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt Đ 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/3/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2019 đến nay.

Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Đình: Ông Lã Thành Công - Là Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (có đơn xin vắng mặt và gửi quan điểm bào chữa)

- Người bị hại: Anh Hà Quang K - sinh năm: 1988

Địa chỉ: Xóm S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)

 - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Tuyên H - sinh năm: 1988

Địa chỉ: Số nhà 226, phố N, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 26/8/2019, Hà Văn Đ - sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 89C1-027.90 đến khu vực bãi đất trống gần UBND xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Đình để xe tại đó rồi đi theo cửa ngách vào nằm ngủ phía sau hội trường của UBND xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, mục đích chờ đến tối để trộm cắp tài sản. Đến 19 giờ cùng ngày, Đình đi ra khu vực lán để xe của UBND xã Võ Miếu thì phát hiện có 04 chiếc xe mô tô để ở khu vực lán để xe, trong đó có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh - trắng, biển kiểm soát: 19F1-035.30, số máy 55P1-050770, số khung 55P10BY050770 của anh Hà Quang K - sinh năm: 1988, nơi cư trú: Xóm S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Để ý xung quanh không có người trông giữ, Hà Văn Đ dùng tay giật đứt dây điện của ổ khóa rồi đấu điện khởi động chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 19F1-035.30 của anh K nhưng không khởi động được. Đ dắt chiếc xe mô tô trên qua cửa ngách ra bãi đất trống chỗ Đ để chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 89C1-027.90 lúc chiều. Tại đây, Đ dùng dây điện đấu nối xe Yamaha Exciter với xe Honda Wave để khởi động chiếc xe máy Yamaha Exciter. Sau khi khởi động được xe Yamaha Exciter, Đ điều khiển xe đến ngã ba xóm S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ cất giấu xe tại đó rồi đi bộ quay lại chỗ để chiếc xe Honda Wave màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 89C1-027.90 để lấy xe nhưng không thấy xe. Đ quay lại chỗ giấu xe mô tô Yamaha Exciter sau đó điều khiển xe về nhà mình ở Xóm Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến rạng sáng ngày 27/8/2019, Đ dùng tay cậy phá cốp xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát: 19F1-035.30, phát hiện bên trong có một chiếc ví da, kiểm tra trong ví có số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cùng nhiều loại giấy tờ khác. Đ lấy số tiền trên sau đó điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter đến khu vực cầu Minh Đài thuộc xã Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, tại đây Đ dùng tay bẻ gãy chiếc biển kiểm soát 19F1-035.30 khỏi xe rồi ném chiếc ví da có giấy tờ bên trong cùng chiếc biển số xuống sông. Đến 23 giờ 00 phút ngày 27/8/2019, Đ điều khiển chiếc xe mô tô Yamaha Exciter đến quán nhà anh Hoàng Văn L ở khu T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ để uống nước thì bị Công an xã Văn Luông nghi vấn, kiểm tra, bắt giữ Đ cùng chiếc xe mô tô nhưng Đ đã bỏ chạy. Số tiền 2.000.000đ của anh K để trong cốp xe, Đ đã chi tiêu hết 1.720.000đ, còn lại 280.000đ thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn thu giữ. Đối với chiếc biển kiểm soát 19F1-035.30 và chiếc ví da có giấy tờ bên trong bị Hà Văn Đ ném xuống sông nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thu hồi được.

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn đã trưng cầu định giá tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh - trắng, số máy 55P1-050770, số khung 55P10BY050770. Tại bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản đã kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter màu xanh - đen trị giá 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng).

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 89C1-027.90 được Hà Văn Đ sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ ngày 26/8/2019, anh Hà Văn D - sinh năm: 1954 là bảo vệ của UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ đi kiểm tra phát hiện chiếc xe Honda Wave màu đỏ - đen, biển kiểm soát:

89C1-027.90 để ở khu vực bãi đất trống gần UBND xã Võ Miếu, không có ai trông coi, anh D đã cất chiếc xe máy trên vào kho của UBND xã sau đó giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn. Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Hà Văn Đ khai nhận: Đã mua chiếc xe mô tô trên vào khoảng tháng 6/2019 của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 6.000.000đ tại khu vực bến xe Mỹ Đình, Hà Nội. Qua điều tra, xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định chiếc xe mô tô trên đứng tên chủ sở hữu là anh Vũ Tuyên H - sinh năm: 1988, địa chỉ: Phố N, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Anh H khai: Ngày 06/6/2019, anh H bị kẻ gian trộm cắp mất chiếc xe máy trên tại ngõ 124, phố Phúc Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Anh H đã trình báo sự việc bị mất tài sản với Công an phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chiếc xe mô tô trên là vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội; quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định Hà Văn Đ là đối tượng trộm cắp chiếc xe máy này. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn đã gửi thông báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội để tiếp nhận thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy Yamaha Exciter biển kiểm soát: 19F1-035.30, số máy 55P1-050770, số khung 55P10BY050770 không phải xe là vật chứng của vụ án khác, chiếc xe này là của anh Hà Quang K - sinh năm: 1988, nơi cư trú: Xóm S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngày 25/9/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn trả lại chiếc xe trên cho anh K. Anh K đề nghị Hà Văn Đ phải bồi thường cho anh số tiền bị trộm cắp là 2.000.000đ. Đối với chiếc biển số xe biển kiểm soát 19F1-035.30 và chiếc ví da có giấy tờ bên trong bị Hà Văn Đ ném xuống sông, Cơ quan cảnh sát điều tra không thu hồi được, anh K tự nguyện khắc phục và không yêu cầu Đ phải bồi thường.

Về tài sản của các bị cáo: Ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, bị cáo không có tài sản gì có giá trị.

* Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 15 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Hà Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn không thay đổi, bổ sung cáo trạng, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/8/2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại anh Hà Quang K 280.000đ là số tiền bị cáo đã trộm cắp Truy thu 1.720.000đ của bị cáo Hà Văn Đ để trả lại anh Hà Quang K.

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn chuyển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 89C1-027.90 đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm để giải quyết theo thẩm quyền Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự.

* Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Ông Lã Thành Công là người bào chữa cho bị cáo Đ: Ngày 26/8/2019 bị cáo Đ đã trộm cắp chiếc xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 19F1-035.30 của anh Khánh, trước khi trộm cắp bị cáo có 3 tiền án. Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là phù hợp. Bị cáo là dân tộc thiểu số, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

Anh Hà Quang K là người bị hại: Nhất trí đại diện Viện kiểm sát đã trình bày luận tội và đề nghị hình phạt đối với bị cáo. Nay anh đã nhận lại xe mô tô, còn số tiền 2.000.000đ, biển kiểm soát xe và một số giấy tờ chưa nhận lại. Đề nghị bị cáo phải trả lại 2.000.000đ. Đối với giấy tờ xe và biển kiểm soát của xe hiện nay không thu hồi được, không đề nghị bị cáo phải bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.

Anh Vũ Tuyên H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát: 89C1-027.90. Tháng 6/2019 anh để ở nhà trọ ở ngõ 124, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội đã bị kẻ gian trộm cắp, sau khi bị trộm cắp thì anh có báo cáo Công an quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội để điều tra nhưng không thấy. Nay Công an huyện Thanh Sơn đã thu giữ được chiếc xe mô tô của anh bị trộm cắp. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chuyển chiếc xe mô tô của anh đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội để giải quyết thì anh nhất trí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Chứng cứ buộc tội:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hà Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 19 giờ ngày 26/8/2019 tại nhà để xe của UBND xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo Hà Văn Đình trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter BKS: 19F1-035.30 của anh Hà Quang K trị giá 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng), bên trong cốp xe có chiếc ví da của anh Khánh, trong ví có một số giấy tờ xe và 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; lời khai người bị hại; vật chứng vụ án và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ vụ án. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của anh Khánh được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn trộm cắp, trị giá tài sản và số tiền của anh Khánh bị cáo đã trộm cắp là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Người bào chữa cho bị cáo cũng nhất trí về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, không bào chữa gì. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luân bị cáo Hà Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo có 03 tiền án nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) .......................................;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a).................................;

g) Tái phạm nguy hiểm.

[3] Tính chất vụ án: Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và gây hoang mang trong Nhân dân. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 03 tiền án nhưng đó là tình tiết định khung nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy nhân thân bị cáo là xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và phải đi cải tạo tập trung, trong thời gian chấp hành án bị cáo không chịu học tập, lao động mà còn trốn khỏi nơi giam giữ, nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo và các quy định của pháp luật, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù là nghiêm khắc. Người bào chữa cho bị cáo căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất. Vì vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo 46 tháng tù cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy đinh tai khoan 5 Điêu 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy bị cáo không có tài sản gì có giá trị, Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đôi vơi bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

Xét thấy bị cáo trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter BKS: 19F1-035.30 của anh Hà Quang K, bên trong cốp xe có chiếc ví da, trong ví có các giấy tờ xe và 2.000.000đ. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi được chiếc xe mô tô sau đó trả lại anh K; đối với số tiền 2.000.000đ để trong chiếc ví da thì bị cáo đã chi tiêu hết 1.720.000đ, còn lại 280.000đ thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ; đối với chiếc ví da bên trong có các giấy tờ xe và chiếc biển kiểm soát của xe mô tô thì không thu hồi được. Tại phiên tòa hôm nay, anh K đề nghị bị cáo phải trả lại số tiền 2.000.000đ; đối với ví da, một số giấy tờ xe và biểm soát của xe mô tô thì không đề nghị bị cáo phải bồi thường. Vì vậy, xác nhận anh K đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter; trả lại anh K 280.000đ và buộc bị cáo phải trả lại anh K 1.720.000đ; bị cáo không phải bồi thường trị giá chiếc ví da, giấy tờ xe và biển kiểm soát của xe mô tô cho anh K.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát: 89C1-027.90 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Xét thấy chiếc xe này là của anh Vũ Tuyên H bị trộm cắp tại địa bàn quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn đã thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm để phối hợp giải quyết. Tại phiên tòa anh H cũng nhất trí chuyển chiếc xe mô tô này đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội để giải quyết. Vì vậy, chuyển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát: 89C1-027.90 đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm để giải quyết theo thẩm quyền, không giải quyết chiếc xe này đối với anh H trong vụ án này.

[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 46 (Bốn mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/8/2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

Xác nhận anh Hà Quang K đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh trắng, số máy 55P1-050770, số khung 55P10BY050770 (Theo biên bản trả tài sản ngày 25/9/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn) Trả lại anh Hà Quang K 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng). Số tiền trả lại anh K đã chuyển khoản từ Công an huyện Thanh Sơn đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn theo giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 25/11/2019 của Kho bạc Nhà nước huyện Thanh Sơn.

Buộc bị cáo Hà Văn Đ trả lại anh Hà Quang K 1.720.000đ (Một triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành án không trả tiền cho người được thi hành án mà người được thi hành có đơn đề nghị thi hành án thì người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả.

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn chuyển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát: 89C1-027.90 đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội để giải quyết theo thẩm quyền.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hà Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự. Tổng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.

Trong trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:61/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Sơn - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về