Bản án 61/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 61/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2019/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Tố T, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: Số A, đường T, khóm E, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt);

- Bị đơn: Ông Lâm Phúc N, sinh năm 1976;

Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16-7-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tố T trình bày:

Bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lâm Phúc N quen biết, yêu thương và tiến tới hôn nhân vào năm 2007. Sau đó bà T ông N tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93, quyển số 01/2007, ngày 02-5-2007. Suốt thời gian chung sống là cũng từng ấy năm bà T không hòa hợp với ông N. Do vợ chồng không có con chung nên đời sống hôn nhân của vợ chồng cũng không hạnh phúc. Giữa bà T và ông N thường bất đồng quan điểm, cự cãi nhau. Tuy vợ chồng đã có sự cố gắng nhường nhịn để tìm tiếng nói chung, nhưng tình trạng hôn nhân vẫn ngày càng mâu thuẫn trầm trọng thêm. Kể từ tháng 02 năm 2018 cho đến nay giữa bà T và ông N sống ly thân và không còn liên lạc với nhau. Bà T cũng xác định không còn tình cảm với ông N và cũng không muốn gặp mặt ông N dù chỉ một lần. Thời gian chung sống giữa bà T ông N không có con chung, không tạo lập được tài sản chung và cũng không có nợ chung.

Nay bà Nguyễn Thị Tố T yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tố T yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Phúc N.

- Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết - Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung đối với ông N.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung đối với ông N.

Kèm theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Tố T đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:

+ Giấy chứng nhận kết hôn 93, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã T cấp ngày 02-5-2007;

Trong quá trinh giải quyết vụ án, ngày 28-8-2019 bà Nguyễn Thị Tố T có văn bản yêu cầu xin vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cũng như hỗ trợ cho nguyên đơn trong việc gửi các tài liệu chứng cứ cho ông Lâm Phúc N. Ông N đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên ông N không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tố T vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 16-7-2019, bà Nguyễn Thị Tố T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lâm Phúc N có nơi cư trú tại ấp C, xã T, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Trần Đề thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tố T vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lâm Phúc N vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Tố T:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2007 bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lâm Phúc N kết hôn theo phong tục truyền thống, có tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69, quyển 01/2012, ngày 02-5-2007. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lâm Phúc N là hợp pháp.

[3.2] Theo trình bày của bà T về thời gian chung sống là cũng từng ấy năm bà T không hòa hợp với ông N. Do vợ chồng không có con chung nên đời sống hôn nhân của vợ chồng cũng không hạnh phúc. Giữa bà T và ông N thường bất đồng quan điểm, cự cãi nhau. Tuy vợ chồng đã có sự cố gắng nhường nhịn để tìm tiếng nói chung, nhưng tình trạng hôn nhân vẫn ngày càng mâu thuẫn trầm trọng thêm. Kể từ tháng 02 năm 2018 đến nay bà T và ông N không còn liên lạc với nhau và sống ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy những nội dung này đã được gửi trực tiếp cho ông Lâm Phúc N nhận sau khi thụ lý vụ án. Tuy nhiên ông N không có ý kiến hay phản đối những tình tiết, sự kiện trên. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Bà T đã xác định không còn tình cảm và cũng không muốn gặp ông N dù chỉ một lần. Bên cạnh đó, bà T cũng có đơn yêu cầu xin vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử. Việc này đã thể hiện việc bà T không muốn được hàn gắn tình cảm và cương quyết ly hôn với ông N. Vì vậy Tòa án không tổ chức được phiên hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tố T cho bà T được ly hôn với ông Lâm Phúc N.

[3.3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định giữa bà T và ông N không có con chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy bà Nguyễn Thị Tố T chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Ông Lâm Phúc N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Nguyễn Thị Tố T, ông Lâm Phúc N có quyền kháng cáo bản này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tố T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tố T được ly hôn với ông Lâm Phúc N. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tố T ông Lâm Phúc N theo giấy chứng nhận kết hôn số 93, quyển số 01/2007, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 02-5-2007 chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

3/ Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4/ Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tố T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tố T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005877, ngày 07-8-2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (bà T đã thực hiện xong). Ông Lâm Phúc N không phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lâm Phúc N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:61/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Đề - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về