Bản án 61/2017/HSST ngày 22/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 61/2017/HSST NGÀY 22/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22/9/2017, tại Nhà văn hóa khu dân cư T, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2017/HSST ngày 07/9/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn N, sinh năm 1989

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Bùi Văn Q, con bà Chu Thị N; có vợ là Vũ Thị T; Tiền sự: Không; có 02 tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2015/HSST ngày 17/3/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự (giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.495.000 đồng), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2015, chấp hành xong phần án phí ngày 15/9/2015. Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2015/HSST ngày 16/12/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự (giá trị tài sản chiếm đoạt là 52.000 đồng, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2016, chấp hành án phí ngày 28/9/2016.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2017, đến ngày 14/7/2017 thị tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.

* Người bị hại: Anh Phạm Việt H, sinh năm 1996

Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương

Nơi ở: Số 57C, ngõ 57, đường H, khu dân cư T, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương.

Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Sáng ngày 12/7/2017, Bùi Văn N đi xe buýt từ huyện N, tỉnh Hải Dương đến khu vực phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương với mục đích tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, N đi vào dãy nhà trọ của ông Nguyễn Hồng T và bà Khổng Thị N tại số 57C, ngõ 57, đường H, khu dân cư T, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương. N thấy khu vực dãy nhà trọ không có người, cửa phòng trọ số 03 khóa, khuy cài nối với cánh cửa gỗ không chắc chắn nên nảy sinh ý định vào phòng trọ số 03 lấy tài sản. N dùng tay phải cầm vào khuy cái, tay trái đặt lên cánh cửa làm trụ, rồi dùng lực tay phải kéo khuy cài từ trong ra ngoài làm khuy cài bung bật ra khỏi cửa gỗ. N mở cửa đi vào trong phòng thì thấy có 01 Laptop nhãn hiệu DELL Inspiron 14 5448, màu đen-bạc để trên mặt bàn học sinh, 01điện thoại di động Iphone 6S màu vàng,ốp điện thoại màu đen bên trong có lắp Sim Viettel số thuê  bao 0972.318.386 để ở gầm bàn học sinh, 01 sặc điện thoại Iphone cắm ở ổ điện trên tường và 01 chiếc túi đựng máy tính xách tay bằng vải màu nâu đỏ để ở đầu giường, bên trong túi có 01 sặc pin Laptop nhãn hiệu DELL. Toàn bộ tài sản trên thuộc sở hữu của anh Phạm Việt H là sinh viên Trường Đại học S đang thuê trọ tại phòng trọ số 03. N lấy toàn bộ số tài sản trên cho vào trong túi đựng máy tính xách tay. Khi vẫn đang ở trong phòng trọ của anh H thì N nghe thấy có tiếng xe máy đi vào khu nhà trọ, N để lại toàn bộ tài sản trên giường và đi ra ngoài thì bị anh H cùng mọi người phát hiện bắt giữ thu giữ toàn bộ những tài sản trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 137/HĐĐG ngày 13/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Chí Linh kết luận: Tại thời điểm ngày 12/7/2017, 01 Laptop nhãn hiệu DELL Inspiron 14-5448 màu đen - bạc, 01 sặc Laptop nhãn hiệu DELL và 01 túi đựng Laptop màu nâu đỏ nhãn hiệu DELL trị giá 9.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng và 01sặc điện thoại Iphone 6S trị giá 7.000.000 đồng; 01 Sim Viettel số thuê bao 0972.318.386 trị giá 50.000 đồng; 01 ốp điện thoại Iphone 6S màu đen trị giá 20.000 đồng. Tổng trị giá tài sản định giá là 16.750.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 58/VKS - HS ngày 06/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Bùi Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 18, khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/7/2017; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 12/7/2017, tại phòng trọ số 03 thuộc dãy nhà trọ của ông Nguyễn Hồng T ở số 57C, ngõ 57, đường H, khu dân cư T, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương, Bùi Văn N đã lợi dụng sơ sở, lén lút chiếm đoạt của anh Phạm Việt H 01 Laptop nhãn hiệu DELL Inspiron 14 - 5448, màu đen - bạc; 01 sạc Laptop nhãn hiệu DELL; 01 túi đựng Laptop; 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng kèm theo ốp lưng, bên trong điện thoại lắp 01 Sim Viettel số thuê bao 0972.318.386; 01 sặc điệnthoại Iphone 6S. Tổng giá  trị tài sản chiếm đoạt là 16.750.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Bị cáo chưa mang được những tài sản chiếm đoạt ra khỏi phòng trọ của anh H thì đã bị phát hiện và bắt giữ là ngoài ý muốn của bị cáo. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp chưa đạt quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại bản án án hình sự sơ thẩm số 75/2015/HSST ngày 16/12/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích đối với bản án này, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã 02 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và phải chịu sự giáo dục, cải tạo của Nhà nước nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng bản thân, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém.

Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại là anh Phạm Việt H đã nhận lại toàn bộ tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” (Chưa đạt).

Áp dụng khoản 1 Điều 138, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 18, khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/7/2017.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

294
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2017/HSST ngày 22/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:61/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về