Bản án 60/2019/HNGĐ-ST ngày 25/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 60/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/10/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 25 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 271/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/9/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST -HNGĐ ngày 03/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thị T – Sinh năm 1994.

Nơi cư trú: ấp cây G, xã Q, huyện Chơn T, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Điểu Hoàng M – Sinh năm 1995.

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh B.

(Nguyên đơn vắng mặt có đơn vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2019, bản tự khai ngày 19/6/2019, các biên bản hòa giải nguyên đơn chị Thị Ttrình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị T và anh Điểu Hoàng M tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 17/12/2015 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Quang Minh, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và hay cãi vã, anh Điểu Hoàng M hay ăn nhậu, đánh đập vợ con không chăm lo cho gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Thị Tyêu cầu được ly hôn với anh Điểu Hoàng M.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Điểu Quốc D, sinh ngày 08/5/2017; Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Hiện tại chị Trang không mang thai. Khi ly hôn chị Tyêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh Minh cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của tòa án nhưng anh Điểu Hoàng M không đến tòa án để làm việc nên không trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản không có ý kiến gì thêm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị T đối với anh Điểu Hoàng M. Về con chung giao con chung cho chị Thị T nuôi dưỡng, anh Điểu Hoàng M không cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung đương sự không yêu cầu và nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với anh Điểu Hoàng M có nơi cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh B thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn là anh Điểu Hoàng M, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án viết bản trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Điểu Hoàng M không đến tòa án làm việc, tham gia hòa giải, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 D8iều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Thị T và anh Điểu Hoàng M là hôn nhân hợp pháp, các đương sự có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quang M, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình P. Chị T cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị Trang yêu cầu ly hôn với anh M. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo biên bản xác minh tại địa phương ngày 12/9/2019 thì về quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh M trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và thường xuyên cãi nhau, gia đình mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017. Đồng thời quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Mcũng không đến Tòa án để gặp, hàn gắn tình cảm với chị T. Ngoài ra ý chí của chị T về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh M là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị T về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh Điểu Hoàng M.

[3].Về con chung: Con chung tên Điểu Quốc D, sinh ngày 08/5/2017, hiện tại đang sống chung với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Hi đồng xét xử xét thấy đối với con chung tên Điểu Quốc D, sinh ngày 08/5/2017đang sống với chị T và chị T có nguyện vọng nuôi 02 con chung, chị T cung cấp chứng cứ nuôi con là bản sao kê tài khoản tiền lương thể hiện thu nhập hàng tháng, anh M không trình bày ý kiến và không cung cấp chứng cứ về việc nuôi con chung vì vậy cần giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị Thị T chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 01 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thị T và anh Điểu Hoàng M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2015, ngày 17//12/2015 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã xã Quang Minh, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước hết giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung tên Điểu Quốc D, sinh ngày 08/5/2017cho chị chị Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Điểu Hoàng M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Chị Thị T chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005439 ngày 12/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2019/HNGĐ-ST ngày 25/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:60/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hớn Quản - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về