Bản án 59/2020/HNGĐ-ST ngày 10/01/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 59/2020/HNGĐ-ST NGÀY 10/01/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 10 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 577/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6002/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Vũ Uyên T, sinh năm 1995 Địa chỉ: Đường H, Phường T, Quận M, Thành phố H.

Bị đơn: Ông Toan N H, sinh năm 1993 Quốc tịch: Việt Nam Địa chỉ: 632 South, Stewart Street, Salt Lake City-UT 84104, USA.

( Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 22/10/2018, bản tự khai ngày 12/12/2018 của nguyên đơn bà Hoàng Vũ Uyên T trình bày:

Bà và ông Toan N H tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 1/2016, do Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/5/2016. Sau khi kết hôn ông Toan N H trở về Hoa Kỳ, bà và ông Toan N H thường xuyên liên lạc với nhau qua email, điện thoại, mạng xã hội. Tuy nhiên, qua các cuộc trò chuyện giữa bà và ông Toan N H đã xảy ra những bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Mặt khác, nhiều lần ông Toan N H có những lời lẽ thiếu tôn trọng và xúc phạm bà và gia đình bà khiến tinh thần của bà bị tổn thương trầm trọng. Vì vậy, việc liên lạc giữa bà và ông Toan N H thưa dần, hơn một năm nay bà và ông Toan N H không còn liên lạc với nhau. Hiện tại ông Toan N H sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ còn bà sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn gửi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị ly hôn với ông Toan N H để có điều kiện ổn định cuộc sống.

Con chung: Bà Hoàng Vũ Uyên T khai không có.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Vũ Uyên T khai không có.

Bà Hoàng Vũ Uyên T xin được vắng mặt khi tòa án giải quyết vụ án.

Ông Toan N H được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thủ tục tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và ngày, giờ mở phiên tòa nhưng việc tống đạt này không thực hiện được vì đương sự không còn ở tại địa chỉ được yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Hoàng Vũ Uyên T khai không còn tình cảm với ông Toan N H, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Vũ Uyên T có cơ sở chấp nhận. Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Hoàng Vũ Uyên T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Hoàng Vũ Uyên T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Hoàng Vũ Uyên T.

Đối với ông Toan N H, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho ông Toan N H theo quy định pháp luật nhưng việc tống đạt không thành. Do đó Tòa án tiến hành thủ tục đăng Thông báo về việc giải quyết vụ án ly hôn giữa bà Hoàng Vũ Uyên T và ông Toan N H trên Cổng thông tin điện tử và đồng thời niêm yết tại trụ sở Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại San Phran-xít-cô, Hoa Kỳ. Cơ quan nêu trên đã thực hiện các công việc theo yêu cầu của Tòa án nhưng ông Toan N H không có văn bản trả lời và vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Toan N H.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Hoàng Vũ Uyên T và ông Toan N H tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 1/2016, do Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/5/2016 nên là hôn nhân hợp pháp.

2 Về yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Vũ Uyên T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Toan N H định cư ở Hoa Kỳ. Sau khi kết hôn ông Toan N H trở về Hoa Kỳ, bà và ông Toan N H thường xuyên liên lạc với nhau qua email, điện thoại, mạng xã hội. Tuy nhiên, qua các cuộc trò chuyện giữa bà và ông Toan N Huỳnh đã xảy ra những bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Mặt khác, nhiều lần ông Toan N H có những lời lẽ thiếu tôn trọng và xúc phạm bà và gia đình bà khiến tinh thần của bà bị tổn thương trầm trọng. Vì vậy, việc liên lạc giữa bà và ông Toan N H thưa dần, hiện nay bà và ông Toan N H không còn liên lạc với nhau. Hiện tại ông Toan N H sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ còn bà sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Bà Hoàng Vũ Uyên T xác nhận không còn tình cảm với ông Toan N H, xét hiện nay mỗi người sống một nơi, tình cảm vợ chồng không có điều kiện hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Hoàng Vũ Uyên T xin ly hôn ông Toan N H là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Hoàng Vũ Uyên T khai không có, Hội đồng xét xử không xét.

[2.3] Về nợ chung và tài sản chung: Bà Hoàng Vũ Uyên T khai không có, Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí:

Bà Hoàng Vũ Uyên T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về chi phí tố tụng khác:

Do Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã nhận được chi phí thực tế ủy thác tư pháp do bà Hoàng Vũ Uyên T trực tiếp chuyển khoản. Bà Hoàng Vũ Uyên T đã đóng đủ.

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 273, Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Vũ Uyên T.

1. Về hôn nhân:

Bà Hoàng Vũ Uyên T được ly hôn ông Toan N H.

3 Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01/2016 do Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/5/2016 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Không có, Tòa án không giải quyết.

3. Về nợ chung và tài sản chung: Không có, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm:

Bà Hoàng Vũ Uyên T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2017/0045602 ngày 08/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hoàng Vũ Uyên T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5/ Về chi phí tố tụng khác: Bà Hoàng Vũ Uyên T đã đóng đủ.

6/ Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn bà Hoàng Vũ Uyên T và bị đơn ông Toan N H; thời hạn kháng cáo của bà Hoàng Vũ Uyên T là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Đối với ông Toan N H thời hạn kháng cáo bản án là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 59/2020/HNGĐ-ST ngày 10/01/2020 về ly hôn

Số hiệu:59/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về