Bản án 59/2019/HS-ST ngày 26/04/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VY, TỈNH VP

BẢN ÁN 59/2019/HS-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố VY, tỉnh VP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:

Tạ Ngọc A, sinh năm 1982, tại VP; nơi cư trú: Khu 3, xã TL, huyện YL, tỉnh VP; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn H và bà Nguyễn Thị B; vợ: Lưu Thị Th, sinh năm 1990 con: 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt);

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố Vinh Thịnh T, phường KQ, thành phố VY, tỉnh VP.

Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Ng:

- Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1949;

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953;

Đu cư trú: Thôn Nhân Vực, xã ĐĐ, huyện BX, tỉnh VP.

- Anh Trần Văn H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố Vinh Thịnh T, phường KQ, thành phố VY, tỉnh VP.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Thọ, bà Lương: Anh Trần Văn H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 ngày 17/8/2018, Tạ Ngọc A điều khiển xe máy đi trên đường Mê Linh (hướng HN đi VT) để về nhà ở xã TL, huyện YL. Sau khi đi hết đường Mê Linh, A điều khiển xe máy đi vào đường Kim Ngọc, lúc này trời đang có mưa, đèn đường chưa bật, A điều khiển xe máy đi ở làn đường bên trong giáp dải phân cách cứng với vận tốc khoảng 55km – 60km/h. Khi A điều khiển xe máy cách khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Kim Ngọc với đường Trần Quốc T thuộc phường NQ, thành phố VY khoảng 30m, A quan sát thấy chị Nguyễn Thị Ng mặc áo mưa màu vàng đang điều khiển xe máy đi cùng chiều, phảiía trước bên phải xe của A đang từ từ đánh lái chuyển hướng sang trái để đi qua lối mở trên dải phân cách cứng giữa đường Kim Ngọc sang chiều đường Kim Ngọc hướng thành phố VT đi thành phố HN. Lúc này, xe máy của A cách xe máy của chị Ng khoảng 20m – 25m A cho rằng chị Ng sang đường với tốc độ chậm đủ khoảng cách cho A vượt lên, nên A vẫn điều khiển xe máy đi thẳng theo hướng di chuyển của A và duy trì vận tốc xe máy khoảng 55km – 60km/h. Khi A điều khiển xe máy đi đến đầu lối mở thì phát hiện thấy xe máy của chị Ng đang đi đến giữa chiều đường Kim Ngọc hướng thành phố HN đi thành phố VT và cách xe máy của A khoảng 01m - 02m. Thấy vậy, A giảm vận tốc xe xuống còn khoảng 50km/h nhưng do không làm chủ tốc độ nên bánh trước xe máy do A điều khiển đâm vào gác để chân bên trái xe máy do chị Ng điều khiển làm chị Ng và A cùng xe máy đều bị ngã. Chị Ng bị thương tích được A cùng quần chúng nhân dân đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh VP cấp cứu. Ngày 18/7/2018, chị Ng được gia đình chuyển xuống Bệnh viện Việt Đức, thành phố HN cấp cứu, đến ngày 12/9/2018 chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh VP tiếp tục điều trị.

Tại Bệnh án ngoại khoa số 31399/18 ngày 18/8/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh VP, xác định thương tích của chị Nguyễn Thị Ng như sau: “Sưng nề vùng đỉnh, chẩm trái, chảy máu tai trái, bụng mềm, ấn đau khắp bụng, chấn thương sọ não: hình ảnh máu tụ ngoài màng cứng vùng thái dương bên trái, tụ máu dưới màng cứng thái dương bên phải, tổn thương dập não, tụ máu nhỏ vùng thùy thái dương bên phải, phù não nhiều, đường vỡ xương đá bên phải”.

Biên bản khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường thuộc đường Kim Ngọc, phường NQ, thành phố VY là đường hai chiều có giải phân cách cứng ở giữa kích thước (0,3 x 1,7)m; một chiều hướng từ thành phố VY đi thành phố VT; lòng đường rộng 11,3m; có hai làn đường; làn giáp dải phân cách cứng kích thước 4m; làn giáp vỉa hè kích thước 7,3m, đây là chiều đường xảy ra vụ tai nạn giao thông; một chiều hướng thành phố VY đi thành phố Hà Nội, có lối mở vào đường Trần Quốc Toản. Toàn bộ mặt đường được trải nhựa áp phan bằng phẳng.

Xác định đầu dải phân cách lối mở gần nhất nơi hiện trường xảy ra tai nạn giao thông theo chiều đường Kim Ngọc hướng thành phố VY đi thành phố VT làm điểm mốc (Km 33+336). Xác định mép đường Kim Ngọc giáp vỉa hè theo chiều đường hướng thành phố VY đi thành phố VT làm mép đường chuẩn.

Tại hiện trường trên mặt đường nhựa phát hiện đám cà xước mặt đường kích thước (6,7x 0,01) m, ký hiệu (1), đầu (1) cách mép đường chuẩn 9m, cuối (1) trùng với chân chống xe máy BKS 88G1 – 044.41 ký hiệu (5), đầu (1) cách vết cà xước mặt đường kích thước (4,6x0,01)m, ký hiệu (2), kích thước 1,1m; Phát hiện vết cà xước mặt đường kích thước (4,6x0,01)m, ký hiệu (2), đầu (2) cách mép đường chuẩn là 10,55m, cuối (2) trùng với trục sau xe máy BKS 88K8 – 3468, ký hiệu (4) Phát hiện đám mảnh nhựa vỡ kích thước (3,1x1,2)m, ký hiệu (3)… Biên bản khám nghiệm xe máy BKS 88K8 – 3468; xe máy BKS 88G1 – 044.41 xác định:

- Xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade BKS 88K8 – 3468 màu đen: Gương chiếu hậu bên phải xe không có, gương chiếu hậu bên trái còn. Tại vị trí đầu tay lái bên phải phát hiện một vết mài mòn kim loại han rỉ màu vàng kích thước (1x1)cm, không rõ chiều hướng. Tại vị trí mặt nạ đầu xe bên phải phát hiện đám cà xát lộ nhựa hướng từ phải qua trái, từ dưới lên trên kích thước (3,5x2)cm. Tại vị trí cánh yếm bên phải phát hiện đám vỡ bung lẫy nhựa để lộ phần bên trong kích thước (40x18)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 52cm … - Xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade BKS 88G1 – 044.41, màu đỏ: Tại vị trí ốp nhựa màu đỏ bên phải xe phát hiện đám cà xát mài mòn nhựa không rõ chiều hướng kích thước (2,5x0,3)cm. Tại vị trí mặt ngoài cánh yếm bên phải phát hiện đám cà xát mài mòn nhựa có chiều hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên kích thước (14x1)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 67cm. Tại vị trí bàn để chân bên phải người lái phát hiện đám vỡ nhựa kích thước (7x16)cm … Tại bản Kết luận giám định phảiáp y về thương tích số 424/TgT ngày 11/10/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh VP kết luận thương tích của chị Nguyễn Thị Ng: Về thương tích: mặt ngoài cổ chân trái có vết sẹo màu nâu, sẹo liền tốt, đáy phẳng, kích thước (1,5x1)cm. 1/3 dưới mặt trong cẳng chân trái có 5 vết sẹo màu thâm nâu nằm ngang, sẹo liền tốt, đáy phẳng, kích thước mỗi vết từ trên xuống dưới là (5cm, 1cm, 4cm, 0,5cm và 2cm). 1/3 mặt ngoài đùi phải có 01 vết mổ nằm dọc, sẹo liền tốt, đáy phẳng, kích thước (7,5x 0,2)cm. Vùng thái dương đỉnh bên trái lên tới vùng đỉnh đầu có 01 vết sẹo mổ hình vòng cung, cung mở ra trước, sẹo liền tốt đáy hơi lõm, kích thước (18 x 0,2)cm. Vùng thái dương đỉnh bên trái có 01 lỗ khuyết xương sọ, đáy phập phồng, kích thước (12x9)cm. Từ vùng trán đỉnh bên phải xuống tới vùng đỉnh chẩm sau bên phải có 01 vết sẹo mổ hình vòng cung, cung mở sang bên phải, sẹo liền tốt đáy hơi lõm kích thước (20x0,2)cm. Vùng thái dương đỉnh bên phải có 01 lỗ khuyết xương sọ đáy phập phồng, kích thước (15x11)cm. Mặt trước cổ có 01 vết sẹo mở khí quản, sẹo liền tốt, đáy hơi lồi, kích thước (3x0,2)cm. Kết luận: Lỗ khuyết xương sọ vùng thái dương đỉnh trái, đáy phập phồng kích thước lớn xếp: 41% (Mục 5.4 phần 1 chương 2); Lỗ khuyết xương sọ vùng thái dương đỉnh phải, đáy phập phồng kích thước lớn xếp: 41% (Mục 5.4 phần 1 chương 2); Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, thái dương trái xếp: 21% (Mục 6 phần III chương 2); Chảy máu dưới nhện liềm đại não và lều tiểu não hai bên, rãnh cuộn não vùng trán phải xếp: 16% (Mục 8 phần III chương 2); Vỡ xương đá bên trái xếp: 16% (Mục 7 phần I chương 13); Ít sẹo mổ kích thước lớn (sẹo mổ vùng thái dương bên trái và sẹo mổ vùng trán đỉnh bên phải xuống tới vùng đỉnh chẩm bên phải) xếp: 08% (Mục 3 phần I chương 9); Nhiều vết sẹo đã mô tả trên kích thước nhỏ xếp: 04% (Mục 2 phần I chương 9); Theo dõi chấn thương lách không có trong danh mục xếp tỷ lệ phần trăm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là 82,86% làm tròn bằng 83%.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố VY đã thu giữ hình ảnh camera tại nhà hàng Thảo Béo, ở đường Kim Ngọc, phường NQ, thành phố VY vào thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại kết luận giám định số 1200/KLGĐ ngày 29/8/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VP kết luận: Chụp được 6 ảnh diễn biến liên quan đến vụ việc trên từ một tệp tin video trong USB gửi giám định. Ảnh chụp được in và thuyết minh trong bản ảnh giám định.

Tạ Ngọc A, sau khi xảy ra tai nạn bị thương tích, Cơ quan điều tra Công an thành phố VY đã ra quyết định trưng cầu giám định về thương tích. Tại bản kết luận giám định về thương tích số 359 ngày 07/9/2018, Trung tâm giám định pháp y tỉnh VP kết luận: Về thương tích: Mặt sau khuỷu tay phải có vết sẹo màu nâu nhạt, sẹo liền tốt, đáy phẳng, kích thước (2x 2,5)cm. 1/3 trên mặt trong cẳng chân phải có vết sẹo màu nâu, hình vòng cung, cung mở lên trên, sẹo liền tốt, đáy phẳng, kích thước (3x0,3)cm. Kết luận: Tổn hại sức khỏe ở thời điểm hiện tại là 03%.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản thành phố VY xác định thiệt hại của xe máy BKS 88G1 – 044.41 và xe máy BKS 88K8 – 3468. Tại Kết luận định giá số 155 ngày 21/9/2018, Hội đồng định giá tài sản thành phố VY kết luận: Tổng trị giá thiệt hại của xe máy BKS 88G1 - 044.41 là 210.000đ. Tại Kết luận định giá số 156 ngày 21/9/2018, Hội đồng định giá tài sản thành phố VY kết luận: Tổng trị giá thiệt hại của xe máy BKS 88K8 – 3468 là 840.000đ.

Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 18/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VY đã truy tố Tạ Ngọc A về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tạ Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Ngưi đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Ng anh Trần Văn H đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị L tại phiên tòa vắng mặt nhưng quá trình điều tra anh H trình bày: Khoảng 18 giờ 30, ngày 17/8/2018, anh được thông báo chị Nguyễn Thị Ng (vợ anh) tham gia giao thông bị tai nạn, sau đó chị Ng được đưa vào bệnh viện đa khoa tỉnh VP cấp cứu. Tại kết luận giám định pháp y về thương tích chị Ng bị tổn hại 83% sức khỏe. Quá trình chị Ng điều trị tại bệnh viện gia đình bị cáo A thường xuyên đến thăm hỏi và đã bồi thường cho gia đình anh số tiền 150.000.000đ, anh H đã nhận số tiền trên, đến nay anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Tạ Ngọc A giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Tạ Ngọc A về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tạ Ngọc A từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại bị cáo A 01 Giấy phép lái xe mô tô số S603835 mang tên Tạ Ngọc A; xác nhận CQĐT Công an thành phố VY đã thu và trả lại gia đình chị Nguyễn Thị Ng xe máy BKS 88G1 – 044.41 và Giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Ng; Trả cho Tạ Ngọc A 01 xe máy BKS 88K8 – 3468 là hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự năm 2015: Xác nhận Tạ Ngọc A đã bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Thị Ng số tiền 150.000.000đ, anh Trần Văn H là đại diện hợp pháp của chị Ng đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì.

Bị cáo Tạ Ngọc A không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phảiạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phảiiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Tạ Ngọc A tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại về thời gian, địa điểm, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vât đa thu giư , các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khong 17 giờ 30 ngày 17/8/2018, Tạ Ngọc A có Giấy phép lái xe mô tô theo quy định điều khiển xe máy có dung tích xi lanh 108cm3 đi trên đường Kim Ngọc hướng thành phố HN đi thành phố VT để về nhà mình ở xã TL, huyện YL. Khi đến gần khu vực giao nhau giữa đường Kim Ngọc với đường Trần Quốc Toản thuộc phường NQ, thành phố VY, tỉnh VP, A thấy chị Nguyễn Thị Ng điều khiển xe máy đi cùng chiều, phía trước bên phải, cách xe của A khoảng 20m – 25m, chị Ng đánh lái xe máy sang trái để chuyển hướng đi vào lối mở giữa hai chiều đường Kim Ngọc để sang chiều đường Kim Ngọc hướng thành phố VT đi thành phố HN. Phát hiện chứng ngại vật là xe máy chị Ng đang sang đường, lúc này trời đang có mưa nhưng A vẫn duy trì tốc độ xe khoảng 55km – 60km/h và tiếp tục điều khiển xe đi thẳng theo chiều di chuyển của A. Khi A đi đến đầu lối mở thì phát hiện thấy xe máy chị Ng đang ở giữa chiều đường từ thành phố HN đi thành phố VT chỉ còn cách mình khoảng 01 – 02m, A giảm tốc độ xe máy xuống còn khoảng 50km/h nhưng do không làm chủ tốc độ nên bánh trước xe máy do A điều khiển đâm vào sườn bên trái xe máy do chị Ng điều khiển làm chị Ng bị thương phải vào Bệnh viện cấp cứu. Kết luận giám định thương tích, chị Ng bị tổn hại 83% sức khỏe.

Hành vi của Tạ Ngọc A điều khiển xe máy không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ gây ra tai nạn giao thông làm chị Nguyễn Thị Ng bị thương tích 83% sức khỏe đã vi phạm vào khoản 5 Điều 4; khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 12; Điều 24 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 4; khoản 3, khoản 5, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 91/2015 ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

Khon 5 điều 4 Luật giao thông đường bộ quy định:

“5. Người tham gia giao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác…người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về bảo đảm an toàn của phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Khon 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Các hành vi bị nghiêm cấm:

23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Khon 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe:

1. Người lái xe…phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường….

Điu 24 Luật Giao thông đường bộ quy định:

“Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ…”.

Khon 3, Điều 4 Thông tư số 91/2015 quy định:

3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp với điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông”.

Khon 3, khoản 5, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 91/2015 quy định:

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép đến mức không nguy hiểm (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:

3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức….

5. Qua …khu vực đông dân cư…

11. Trời mưa;… mặt đường trơn trượt,…”.

Bị hại chị Nguyễn Thị Ng, quá trình điều tra xác định khi tham gia giao thông chị Ng điều khiển xe máy chuyển hướng không chú ý quan sát, không bảo đảm an toàn cho người và phương tiện khác vi phạm quy định tại khoản 23, Điều 8, khoản 2, Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy chị Ng cũng có lỗi để xảy ra va chạm giữa xe máy của chị điều khiển với xe máy do A điều khiển.

Hiện nay chị Ng bị tổn hại sức khỏe là 83%, chị chưa tỉnh táo, hồi phục sau tai nạn nên Cơ quan điều tra không đề cập xem xét xử lý.

Khon 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: “Các hành vi bị nghiêm cấm:

23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Khon 2, Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định:

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe… chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.

Hành vi của Tạ Ngọc A đã phạm vào tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ni dung điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm qui định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hôi đông xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến sự an toàn của hoạt động giao thông vận tải đường bộ cũng như sự an toàn về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Xét về lỗi xảy ra tai nạn giao thông là do lỗi chủ quan của bị cáo, không làm chủ tốc độ, khi nhìn thấy chị Ng điều khiển xe máy chuyển hướng sang đường nhưng bị cáo không giảm tốc độ nên đã đâm vào để chân xe máy của chị Ng làm chị Ng bị thương tích tổn hại 83% sức khỏe. Tuy nhiên chị Ng cũng có lỗi khi điều khiển xe máy chuyển hướng không chú ý quan sát, không bảo đảm an toàn cho người và phương tiện khác nên trong vụ việc trên cả hai bên đều có lỗi.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 để Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Về vật chứng: Đối với 01 Giấy phép lái xe mô tô số S603835 mang tên Tạ Ngọc A cần trả lại cho bị cáo A Giấy phép lái xe trên. Đối với 01 xe máy máy BKS 88G1 – 044.41; 01 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Ng; 01 xe máy BKS 88K8 – 3468. Ngày 21/2/2019 và ngày 24/2/2019, Cơ quan điều tra Công an thành phố VY đã trả lại gia đình chị Nguyễn Thị Ng 01 xe máy BKS 88G1 – 044.41 và 01 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Ng; trả lại cho bị cáo Tạ Ngọc A 01 xe máy BKS 88K8 – 3468. Xác nhận việc trả tài sản của Cơ quan điều tra Công an thành phố VY cho gia đình chị Ng và bị cáo A là có căn cứ và hợp pháp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo A và đại diện gia đình bị hại là anh Trần Văn H đã thỏa thuận bồi thường, A bồi thường cho gia đình chị Ng số tiền 150.000.000đ, anh H là người đại diện hợp pháp của chị Ng đã nhận số tiền trên, đến nay anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì nên về trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của phảiáp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Tạ Ngọc A 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 02 (Hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Tạ Ngọc A cho Ủy ban nhân dân xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc, tỉnh VP giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách của án treo, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trưng hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

n cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trả lại cho bị cáo Tạ Ngọc A 01 Giấy phép lái xe mô tô số S603835 mang tên Tạ Ngọc A Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Tạ Ngọc A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

246
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 59/2019/HS-ST ngày 26/04/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

Số hiệu:59/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về