Bản án 58/2019/HSST ngày 25/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 58/2019/HSST NGÀY 25/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường TAND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 59/2019/HSST, ngày 28 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn M, Tên gọi khác: M heo, sinh năm: 1991 tại: Ninh Thuận;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường Tấn T, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận;

Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1966 ( Đã chết) và bà: Đinh Thị Ngọc Th, sinh năm 1967;

Vợ: Nguyễn Thị Phú Q ( Đã ly hôn). Con: có 01 người con, sinh năm 2012 Nhân thân: Ngày 09/02/2015, M bị TAND thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Khi đang chấp hành bản án, M đã bỏ trốn khỏi trại giam. Ngày 16/3/2015, M bị TAND thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 10 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam giữ, tổng hợp hình phạt của bản án trước là 22 tháng tù. Ngày 14/8/2016, M chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 23/11/2016, M bị Tòa án nhân dân TP. Phan Rang- Tháp Chàm xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 07/01/2018, M chấp hành xong hình phạt.

Ngày 08/4/2019 bị cáo đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an TP. Phan Rang- Tháp Chàm.

2. Họ và tên: Lê Thị Hoàng Tr, sinh năm: 1995

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 3, phường Mỹ B, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận;

Thường trú: khu phố 7, phường Văn H, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không;

Tiền án, tiền sự: Không Con ông: Lê Th, sinh năm 1970 và bà: Phan Thị H, sinh năm 1970; Chồng: Vũ Trọng Th ( Đã ly hôn). Con có 01 người, sinh năm 2015 Bị cáo hiện đang cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).

*Người bị hại:

1/ Chị Lê Thị Quỳnh Nh, sinh năm: 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 2, phường Mỹ H, TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận;

2/ Ông Trần Thanh Ph, sinh năm: 1978 (vắng mặt).

Đa chỉ: Khu phố 2, phường Mỹ H, TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

3/ Bà Phạm Chu Diễm Ch, sinh năm: 1980 (vắng mặt).

Đa chỉ: Thôn Phước Kh, xã Phước Th, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

4/ Em Lê Tuấn Kh, sinh năm: 2005 (vắng mặt).

Đại diện hơp pháp của em Kh: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm: 1983(vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố 5, phường Thanh S, TP. Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

5/ Em Diệp Thanh Kh, sinh năm: 2008 (vắng mặt).

Đại diện hơp pháp của em Kh: Ông Diệp Thanh L, sinh năm: 1966(vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố 4, phường Mỹ H, TP. Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/Ông Võ Thanh Thành H, sinh năm: 1982 (vắng mặt).

Đa chỉ: Khu phố 9, TT Phước D, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

2/ Ông Nguyễn Thái Tr, sinh năm: 1980 (Vắng mặt).

Đa chỉ: Khu phố 15, TT Phước D, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

(Những người bị hại, đại diện hợp pháp người bị hại đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng nên Nguyễn Văn M, rủ bạn gái là Lê Thị Hoàng Tr, cùng thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, cụ thể như sau:

Vụ 1: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 29/9/2018, M rủ Tr đi trộm cắp tài sản thì Tr đồng ý. Cả hai đi bộ trên tuyến đường Ngô Gia Tự, khi đến trước quán trà sữa Doremon, số 250 Ngô Gia T, khu phố 6, phường Thanh S, M và Tr thấy có nhiều xe máy điện dựng trước quán, không có ai trông coi, M nói với Tr đứng ngoài cảnh giới, còn M đi bộ vào dắt 01 xe máy điện hiệu DTP Bike, Biển số: 00809, màu đen của cháu Lê Thị Quỳnh Nh ra ngoài đường rồi cùng nhau đẩy về hướng ngã 5 Thanh S.

Sau đó cả hai mang chiếc xe vừa trộm cắp được đến tiệm xe đạp điện Bình Dương thuộc khu vực Long B, xã An H, huyện Ninh Phước bán cho Võ Thanh Thành H với giá 2.000.000 đồng. Số tiền này M, Tr cùng tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá số: 59/KLTS ngày 22 tháng 5 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm kết luận: 01 (một) xe máy điện hiệu DTP Bike, Biển số: 00809, màu đen, không thu hồi được có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Vụ 2: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/11/2018, M cùng với Tr đi bộ từ phường Tấn T đến khu vực phường Mỹ H. Khi đi qua chùa Niệm Phật Đường thuộc khu phố 2, phường Mỹ H, M và Tr thấy có 01 xe máy điện, Biển số: 85MĐ – 00919, màu đen của anh Trần Thanh Ph đang để bên trong cổng chùa, không có người trông coi. M rủ Tr lấy trộm thì Tr đồng ý, Tr đứng ngoài cảnh giới, còn M mở cửa cổng đi đến dắt chiếc xe nói trên ra ngoài đường. Sau đó cả hai mang chiếc xe vừa trộm cắp được đến tiệm xe đạp điện Bình D, bán cho anh Võ Thanh Thành H với giá 1.800.000 đồng, số tiền này M, Tr cùng tiêu xài hết.

Tại kết luận định giá số: 32/BBĐG ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm kết luận:

- 01 (một) xe máy điện, Biển số: 85MĐ – 00919, màu đen, có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Vụ 3: Khoảng 17 giờ ngày 04/4/2019, M và Tr đi bộ từ ngã 5 Phủ H đến khu vực bãi biển Bình S. Khi tới nơi, cả hai thấy 01 xe đạp điện hiệu 1322 KAIZEN, màu đen của anh Diệp Thanh Kh, đang dựng trên vỉa hè, chìa khóa cắm trên xe và không có người trông coi, M rủ Tr lấy trộm chiếc xe này thì Tr đồng ý. Tr đứng gần đó để cảnh giới. M lại gần rồi dắt chiếc xe ra ngoài đường. Sau khi trộm cắp được chiếc xe, M kiểm tra thì phát hiện trong cốp xe có 01 điện thoại di động hiệu SamSung A7, màu xanh dương, của anh Diệp Thanh Kh. Sau đó cả hai mang điện thoại bán cho tiệm điện thoại H, ở phường Thanh Sơn với giá 2.500.000 đồng và bán xe cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) ở phường Văn H với giá 2.500.000 đồng, số tiền này cả hai cùng tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá số: 59/BBĐG ngày 22 tháng 5 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm kết luận như sau:

- 01 (một) xe đạp điện hiệu 1322 KAIZEN, màu đen, không thu hồi được, có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 5.500.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại đi động hiệu SamSung A7, màu xanh dương, không thu hồi được, có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 5.000.000 đồng.

Tng giá trị tài sản mà M và Tr chiếm đoạt trong 03 vụ trộm chung là 20.500.000đ.

Quá trình điều tra còn xác định, ngoài những lần cùng nhau trộm cắp thì M và Tr còn thực hiện trộm cắp riêng cụ thể:

Khong 20 giờ ngày 31/3/2019, M đi bộ một mình đến đường Trần Ph, khi đến số nhà 175/2 đường Trần Ph, thuộc khu phố 1, phường Phủ H, M thấy có nhiều xe máy điện đang để trước nhà nhưng không có người trông coi. M lén lút lại gần và dắt 01 xe máy điện hiệu Kuhama Electricbike, màu đen đỏ của em Lê Tấn Kh, đang dựng trên vỉa hè trước nhà rồi đi theo hướng lên đường QL1A. Sau đó M mang xe máy điện vừa trộm được bán cho Nguyễn Thái Tr, với giá 1.800.000 đồng. Số tiền này M đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.

Tại kết luận định giá số: 34/BBĐG ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm kết luận:

- 01 (một) xe máy điện hiệu Kuhama Electricbike, màu đen đỏ có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 5.530.000đ.

Khong 18 giờ ngày 23/11/2018, Lê Thị Hoàng Tr đi đến khu vực tiệm thuốc tây số 17 thuộc khu phố 2, phường Mỹ H thì thấy 01 xe mô tô hiệu Vision, màu nâu, Biển số: 85D1 – 140.88 của chị Phạm Chu Diễm Ch, không có người trông coi, nên Tr nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe để bán lấy tiền tiêu xài. Tr lại gần chiếc xe rồi đẩy xe từ tiệm thuốc tây số 17 lên đường Yết Kiêu thuộc khu phố 3, phường Mỹ H. Khi đến gần khu vực sân bóng đá, trường Nguyễn Tr, Tr thấy mệt, không thể đẩy xe đi tiêu thụ nên bỏ xe lại khu vực trên rồi đi về. Sau khi sự việc xảy ra, chị Ch trình báo với công an phường, khi tổ chức tìm kiếm, công an đã phát hiện và thu hồi được xe mô tô bị mất.

Tại kết luận định giá số: 33/BBĐG ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm kết luận:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Vision, màu nâu, Biển số: 85D1 – 140.88, có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 23.450.000đ.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã tự thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số: 61/CT-VKSPR, ngày 25/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố các bị cáo về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát TP. Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo Nguyễn Văn M theo khoản 1 điều 173, điểm r, s khoản 1, 2 điều 51, điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 18 (mười tám) – 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo Lê Thị Hoàng Tr theo khoản 1 điều 173, điểm r, s, b khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Hoàng Tr từ 09 (chín) – 12 (mười hai) tháng tù.

Các bị cáo không tranh luận.

Bị cáo M nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Tr nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau.

[1] Xét về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Kiểm sát viên; Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Đối với các bị cáo: Qua thẩm vấn công khai tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ và lời khai của những người tham gia tố tụng có trong hồ sơ vụ án. Trong khoảng thời gian từ ngày 29/9/2018 đến ngày 04/4/2019 bị cáo Nguyễn Văn M rủ rê bị cáo Lê Thị Hoàng Tr trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 03 vụ, cụ thể: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 29/9/2018, M và Tr lén lút trộm cắp 01 xe máy điện hiệu DTP Bike, Biển số: 00809, màu đen của chị Lê Thị Quỳnh Nh trước quán trà sữa Doremon, số 250 Ngô Gia T, khu phố 6, phường Thanh S, trị giá 3.000.000 đồng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/11/2018, M và Tr đi bộ qua chùa Niệm Phật Đường thuộc khu phố 2, phường Mỹ H lén lút trộm cắp 01 xe máy điện, biển số: 85MĐ – 00919, màu đen của ông Trần Thanh Ph đang để bên trong cổng chùa, trị giá 7.000.000 đồng. Khoảng 17 giờ ngày 04/4/2019, M và Tr đi bộ đến khu vực bãi biển Bình Sơn, lén lút trộm cắp 01 xe đạp điện hiệu 1322 KAIZEN, màu đen trị giá 5.500.000 đồng, trong cốp xe có 01 điện thoại di động hiệu SamSung A7, màu xanh dương trị giá 5.000.000 đồng của em Diệp Thanh Kh. Tổng trị giá, hai bị cáo chiếm đoạt 20.500.000 đồng.

Ngoài ra các bị cáo còn thực hiện việc trộm cắp riêng như. Khoảng 20 giờ ngày 31/3/2019, M đi bộ một mình đến số nhà 175/2 đường Trần Phú, thuộc khu phố 1, phường Phủ H, M lén lút dắt trộm 01 xe máy điện hiệu Kuhama Electricbike, màu đen đỏ của em Lê Tuấn Kh, đang dựng trên vỉa hè trị giá 5.530.000 đồng. Khoảng 18 giờ ngày 23/11/2018, Lê Thị Hoàng Tr đi đến khu vực tiệm thuốc tây số 17 thuộc khu phố 2, phường Mỹ H lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Vision, màu nâu, biển số: 85D1 – 140.88 của bà Phạm Chu Diễm Ch, trị giá 23.450.000 đồng.

Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm truy tố các bị cáo M (M Heo), Trân về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Vụ án thuộc đồng phạm giản đơn, để có cơ sở lượng hình cần phân tích nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, tính chất hậu quả vụ án như sau:

Đi với bị cáo Nguyễn Văn M: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 09/02/2015, M bị TAND thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Khi đang chấp hành bản án, M đã bỏ trốn khỏi trại giam. Ngày 16/3/2015, M bị TAND thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 10 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”, tổng hợp hình phạt của bản án trước là 22 tháng tù. Ngày 14/8/2016, M chấp hành xong hình phạt. Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 23/11/2016, M bị Tòa án nhân dân TP. Phan Rang- Tháp Chàm xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 07/01/2018, M chấp hành xong hình phạt. Thể hiện bị cáo xem thường pháp luật, liên tục phạm tội, vừa chấp hành xong hình phạt tù chưa hết thời hạn xóa án tích lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Vai trò trong vụ án trộm cắp tài sản là người khởi xướng, rủ rê, phát hiện tài sản là người trực tiếp tiếp cận tài sản thực hiện hành vi chiếm đoạt, sau khi phạm tội không khắc phục hậu quả. Khi lượng hình xem xét mức án M cao hơn so với bị cáo Tr.

Đi với bị cáo Lê Thị Hoàng Tr: Bị cáo nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, nhưng khi nghe bị cáo M rủ rê trộm cắp thì bị cáo liền đồng tình hưởng ứng ngay, tham gia đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực như cảnh giới tạo điều kiện cho M thực hiện việc trộm cắp dễ dàng, nhanh chóng. Bản thân còn chiếm đoạt riêng 01 xe mô tô hiệu Vision, màu nâu, biển số: 85D1 – 140.88 trị giá 23.450.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo khi lượng hình sẽ xem xét tương ứng với lỗi.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, các bị cáo đều phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ điều kiện để giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng là thành khẩn khai báo, tự thú, người bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Bị cáo Tr có tình tiết giảm nhẹ khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 điều 51 BLHS.

[4] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, là hoàn toàn tướng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, là có căn cứ và đúng pháp luật, nên chấp nhận.

[5]Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại 01 xe mô tô hiệu Vision, BKS: 85D1 -140.88, màu đỏ cho chủ sở hữu là bà Phạm Chu Diễm Ch, 01 xe máy điện hiệu Kuhama Electric, màu đỏ đen cho chủ sở hữu là bà Trần Thị Kim H (mẹ của em Lê Tuấn Kh). Cả hai đã nhận lại tài sản bị mất và không có ý kiến gì nên không xem xét giải quyết.

[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Chị Lê Thị Quỳnh Nh yêu cầu các bị cáo M và Tr bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Chia phần: Mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.500.000 đồng. Tr đã tác động gia đình bồi thường cho Nh 1.500.000 đồng. Chị Nh tiếp tục yêu cầu bị cáo M bồi thường số tiền 1.500.000 đồng. Đây là yêu cầu chính đáng nên chấp nhận.

Ông Trần Thanh Ph yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Chia phần: Mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 3.500.000 đồng. Đây là yêu cầu chính đáng nên chấp nhận.

Em Diệp Thanh Kh yêu cầu các bị cáo M và Tr bồi thường số tiền 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng). Chia phần: Mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 5.250.000 đồng. Đây là yêu cầu chính đáng nên chấp nhận.

(Hiện mẹ của bị cáo Tr là bà Phan Thị H đã khắc phục hậu quả số tiền 8.750.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Phan rang – Tháp Chàm theo biên lai thu số 0004087 ngày 10/7/2019. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án).

Đi với ông Võ Thanh Thành H và ông Nguyễn Thái Tr, khi mua xe không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với ông H và ông Tr, là có cơ sở. Ông Nguyễn Thái Tr không yêu cầu bị cáo M phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo M phải chịu 512.500 đồng án phí dân sự sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào: Khoản 1 điều 173, điểm s, r khoản 1, 2 điều 51, điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Đối với bị cáo M).

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm s, r, b khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Đối với bị cáo Trân).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M (M Heo), bị cáo Lê Thị Hoàng Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M (M Heo) 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 08/4/2019).

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Hoàng Tr 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về bồi thường dân sự: Căn cứ điều 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M bồi thường chị Lê Thị Quỳnh Nh số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Bồi thường cho ông Trần Thanh Ph số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng). Bồi thường cho em Diệp Thanh Kh số tiền 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Buộc bị cáo Tr bồi thường cho ông Trần Thanh Ph số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng). Bồi thường cho em Diệp Thanh Kh số tiền 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) (Hiện gia đình của bị cáo Tr đã bồi thường số tiền 8.750.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Phan Rang – Tháp Chàm theo biên lai thu số 0004087 ngày 10/7/2019. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án).

Về án phí: Căn cứ vào: Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định án phí và lệ phí Tòa án; Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo M phải chịu 512.500 đồng (Năm trăm mười hai ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người bị hại, đại diện hợp pháp người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án văn.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2019/HSST ngày 25/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:58/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về