Bản án 58/2017/HSST ngày 15/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 58/2017/HSST NGÀY 15/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2017/HSST, ngày 28 tháng 8 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Pờ Mò G – Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1973; sinh tại xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu Nơi ĐKNKTT: bản đầu N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu; Chỗ ở hiện nay: bản đầu N, xã B huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt;  Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: không; Dân tộc: La Hủ ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không;  Con ông: Pờ A Đ – đã chết; Con bà: Ky Ca B – đã chết. Bị cáo có vợ: Ky Xé X - sinh năm :1974, trú tại: bản đầu N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có 6 con. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2017 đến ngày 03/9/2017, bị cáo bị ốm được đưa đi chữa trị tại Bệnh viện huyện M và bị chết vào hồi 13 giờ cùng ngày tại Trung tâm y tế huyện M. Tòa án nhân dân huyện Mường Tè đã ra quyết định đình chỉ xét xử đối với bị cáo Pờ Mò G theo Quyết định số: 01/2017/HSST-QĐĐC, ngày 04/9/2017.

2. Vàng Hừ C –Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1998; sinh tại: xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKNKTT: bản Đầu N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu; Chỗở hiện nay:bản T, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu. Nghề nghiệp: trồng trọt;Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 8/12;  Dân tộc: La Hủ; Quốc tịch:Việt Nam.

Con ông: Vàng Mò X– sinh năm: 1963; con bà Ly Cá L – sinh năm 1970. Bị cáo có vợ: Pờ Phí N - sinh  năm 1998, bị cáo chưa có con. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2017 đến nay –  Có mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo Pờ Mò G và Vàng Hừ C bị Viện kiểm sát nhân dân huyệnMường Tè truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/6/2017, Pờ Mò G đến nhà của Vàng Hừ C để ăn cơm, ăn cơm xong, G thuê C chở đi mua thuốc phiện để sử dụng và hứa sẽ trả công cho C 100.000 nghìn đồng, C đồng ý, rồi tự ý lấy xe máy của anh trai là Vàng Nhù X, chở G đi tìm mua thuốc phiện, C chở G đi đến khu vực ngã ba quán A Dim thuộc địa phận xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu, G và C để xe máy ở ven đường rồi đi bộ theo đường mòn để tìm mua thuốc phiện, trên đường đi, G và C gặp một người phụ nữ dân tộc Mông lạ mặt khoảng 30 tuổi, khi gặp G hỏi mua thuốc phiện với người phụ nữ này. Qua trao đổi về việc mua bán thuốc phiện G đã mua của người phụ nữ này 2 gói thuốc phiện với giá 200.000đồng và 57 viên thuốc tân dược APC. Mua được thuốc phiện G cất giấu vào trong túi áo ngực đang mặc rồi cùng với Vàng Hừ C đi về. Khi C và G đi đến địa phận bản N, xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Tè bắt quả tang thu giữ trên người G 2 gói chất nhựa dẻo, mầu nâu đen, có mùi hắc theo lời khai của G và C đó là thuốc phiện và 57 viên thuốc tân dược APC, 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa và 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE - L800, màu đỏ - đen đã qua sử dụng.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, đã xác định 2 gói chất nhựa dẻo mầu nâu đen, có mùi hắc thu giữ của Pờ Mò G có tổng khối lượng là 8,73 gam. Tại bản kết luận giám định số: 228/GĐ – KTHS, ngày 17/6/2017, củaPhòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận chất nhựa dẻo, mầu nâu đen, có mùi hắc thu giữ Pờ Mò G là thuốc phiện.

Tại bản Cáo trạng số: 34/KSĐT–MT, ngày 28 tháng 8 năm 2017 củaViện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố các bị cáo  Pờ Mò G vàVàng Hừ C về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194BLHS.

Đối với bị cáo Pờ Mò G bị tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 01/06/2017đến ngày 03/9/2017, bị cáo bị ốm, được đưa đi chữa trị tại Bệnh viện huyện M, tỉnh Lai Châu và bị chết vào hồi 13 giờ cùng ngày tại Trung tâm y tế huyện M. Tòa án nhân dân huyện Mường Tè đã ra Quyết định đình chỉ xét xử đối với bị cáo Pờ Mò G theo Quyết định số: 01/2017/HSST - QĐĐC, ngày 04/9/2017. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Pờ Mò G.

Bị cáo Vàng Hừ C tại phiên tòa khai, vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/6/2017, Pờ Mò G sang nhà C ăn cơm uống rượu cùng với anh trai C là Vàng Hu L, uống rượu được một lúc thì Vàng Hu L đi ngủ, sau khi L đi ngủ G có nói với C " mày chở chú lên khu vực người Mông xã Tà Tổng để mua thuốc phiện, về chú trả công cho 100.000đồng", nghe G nói vậy C nhất trí, vì không có xe máy, C đã tự đi lấy xe máy của anh trai là Vàng Nhù X chở Pờ Mò G đi mua thuốc phiện. C và G di đến ngã ba quán A Dim, G và C đi bộ theo đường mòn lên xã T, trên đường đi gặp một người dân tộc Mông khoảng 30 tuổi C không biết tên, khi gặp người phụ nữ này giá chủ động hỏi mua thuốc phiện với người phụ nữ này, qua trao đổi về việc mua bán  thuốc phiện G đã mua được 2 gói thuốc phiện và 57 viên thuốc tân dược APC, khi mua thuốc C cũng được nhìn thấy và chứng kiến. Mua được thuốc phiện C tiếp tục chở G đi về, đi đến cầu N thuộc địa phận xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu thì bị bắt quả tang thu giữ trên người G 2 gói thuốc phiện và 57 viên thuốc tân dược APC, thu giữ của C 01 ( một) chiếc điện thoại di động, 01( một) chiếc xe máy. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có ý kiến, căn cứ quyết định đình chỉ xét xử số: 01/QĐ - ĐCXX ngày 04/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè đối với bị cáo Pờ Mò G Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Pờ Mò G vì bị cáo đã chết. Đối với bị cáo Vàng Hừ C đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20, Điều 53 BLHS 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH 14; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 BLHS2015. Xử phạt bị cáo Vàng Hừ C từ 2 năm tù đến 2 năm 6 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải  chịu án phí theo quy định của pháp luật. Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công qu  Nhà nước số thuộc phiện còn lại sau giám định, 57 viên thuốc tân dược APC, trả lại cho bị cáo Vàng Hừ C chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE - L800, màu đỏ đen đã qua sử dụng.

Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, có ý kiến xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp.

Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo tại phiên tòa.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo Vàng Hừ C tại phiên toà phù hợp với mọi tài liệu, chứng cứ hợp pháp có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử khẳng định:

Do muốn có tiền để tiêu sài, vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/6/2017, Vàng Hừ C đã thỏa thuận và nhận lời của Pờ Mò G, chở G lên xã T để tìm mua thuốc phiện về sử dụng, với thỏa thuận khi về G sẽ trả công cho C 100.000đồng. Nhưng do không có xe C đã tự ý lấy xe máy của anh trai là Vàng Nhù X chở Pờ Mò G đi lên Tà Tổng để tìm mua thuốc phiện, khi đến ngã ba Quán Dim thuộc địa phận xã N, cả G và C đi bộ theo đường mòn lên T để tìm mua thuốc phiên. Sau khi mua được thuốc phiện C tiếp tục chở G đi về nhà, trên đường về, đến bản N, xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu thì bị Công an huyện Mường Tè bắt quả tang thu giữ 8,73 gam thuốc phiện và 57 viên thuốc tân dược APC, một chiếc xe máy Hon đa, một điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE - L800, màu đỏ, đen.

Như vậy khẳng định hành vi của Pờ Mò Giá và Vàng Hừ C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Theo khoản 1 điều 194 BLHS.

Đối với Pờ Mò G, ngày 03/9/2017 bị ốm, chết tại Bệnh viện huyện M, tỉnh Lai Châu sau khi đã được đưa đi cứu chữa. Tòa án án dân huyện Mường Tè đã ra quyết định đình chỉ xét xử đối với bị cáo Pờ Mò G, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Vàng Hừ C thấy rằng hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng sấu tới bản thân bị cáo, gia đình và toàn xã hội. Đảng, Nhà nước ta triệt để nghiêm cấm mọi hành vi “Mua bán, tàng trữ, vận chuyển …”các chất ma tuý. Bị cáo hoàn toàn biết và nhận thức được việc chở người khác đi mua thuốc phiện là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có tiền nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm minh, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời nhằm dăn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt hội đồng xét xử cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân, bị cáo Vàng Hừ C, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, nên nhận thức về pháp luật còn có phần hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo. Ngoài ra khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải xem xét các quy định có lợi cho bị cáo được quy định tại khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 41/2017/QH14 về thi hành Bộ luật hình sự 2015. Trong đó hướng dẫn áp dụng những quy định có lợi cho người phạm tội. So với Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo được quy định tại khoản 1 điều 249 BLHS 2015”. Tại khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt tù từ 1 năm tù đến 5 năm tù, đây là quy định mức hình phạt có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét về đồng phạm: xét thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo thực hiện hành vi với vai trò là người giúp sức cho Pờ Mò G đi mua thuốc phiện nên vai trò của bị cáo là thứ yếu, do vậy, Hội đồng xét xử cần phải cân nhắc quyết định hình phạt phù hợp đối với vai trò của bị cáo.

Trong vụ án này còn có một người phụ nữ dân tộc Mông đã bán thuốc phiện cho Pờ Mò G, khi mua C cũng nhìn thấy, nhưng C không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có cơ sở để điều tra xử lý được đối với người này.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo là khó khăn, không có điều kiện thi hành. Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vàng Hừ C.

Về xử lý vật chứng:  Đối với 7,26 gam thuốc phiện còn lại sau giám định đây là chất cấm lưu hành và 57 viên thuốc tân dược APC dùng để hút thuốc phiện cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe máy HONDA đây là tài sản hợp pháp của anh Vàng Nhù X, khi C lấy đi chở G đi mua thuốc phiện, X không biết, cơ quan điều tra đã trả cho Vàng Nhù X là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE - L800, màu đỏ - đen, đây là tài sản hơp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần phải trả lại cho các bị cáo.

Vềán phí: Áp dụng điều 99 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vàng Hừ C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vàng Hừ C phạm tội: ” Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20,Điều 53; Điều 41 BLHS 1999; Điểm a,b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 99, Điều 234 BLTTHS. Khoản 3 Điều 7; khoản 1Điều 249 BLHS 2015;Nghị quyết 41/2017/QH14;Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí.

Xử phạt bị cáo: Vàng Hừ C 1( một) năm 6 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 01/6/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 7,26 gam thuốc phiên và 57 viên thuốc tân dược APC. Trả lại cho bị cáo Vàng Hừ C 1( một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE - L800, màu đỏ - đen, đã qua sử dụng.

3. Về án phí:  Buộc bị cáo Vàng Hừ C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.


149
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về