Bản án 57/2019/HS-ST ngày 23/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 57/2019/HS-ST NGÀY 23/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59 /2019/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Xuân H, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1991. Nơi cư trú: thôn M, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân B và bà Nguyễn Thị T; có vợ Nguyễn Thị H và 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/6/2019, đến ngày 28/6/2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Những người làm chứng:

1. Ông H Văn D, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Ông Nguyễn Cao T, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 25/6/2019, tại đoạn đường ĐT452 thuộc địa phận Thôn T, xã M, huyện H, tổ công tác Công an huyện H, phát hiện bắt quả tang Trần Xuân H có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay phải 02 gói ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1657 gam (không phẩy một nghìn sáu trăm năm mươi bảy gam) mục đích để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy trên, H khai nhận bản thân là người nghiện ma túy, H mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ tên, địa chỉ đi xe máy tại khu vực ngã tư Tiên Hưng thuộc địa phận xã M, huyện Đ với giá 400.000 đồng. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Bản kết luận giám định số 285/KLGĐ-PC09 ngày 25/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu gửi giám định thu giữ của Trần Xuân H là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1657 gam (không phẩy một nghìn sáu trăm năm mươi bảy gam). Heroine STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.” Bản cáo trạng số 64/2019/CT-VKSHH ngày 01-8-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H; Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 285/KLGĐ còn nguyên niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục từ số 21 đến 24); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (Bút lục số 29); bản kết luận giám định số 285/KLGĐ-PC09 ngày 25/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 33); lời khai của những người làm chứng: ông H Văn D và ông Nguyễn Cao T (Bút lục từ số 59 đến số 66). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 25/6/2019, tại Thôn T, xã M, huyện H, Trần Xuân H có hành vi tàng trữ 0,1657 gam ma túy, loại Heroine (Hêrôin), mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d)………..

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, nhưng do mắc nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo không được áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cũng xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[4] Bị cáo mắc nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể, đi xe máy tại khu vực ngã tư Tiên Hưng thuộc địa phận xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[6] Về xử lý vật chứng: 0,1580 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm tám mươi gam) ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo H trong phong bì số 285/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu huỷ.

Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuan H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25-6-2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu để tiêu huỷ 0,1580 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm tám mươi gam) ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo H trong phong bì số 285/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HS-ST ngày 23/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:57/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hưng Hà - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về