Bản án 57/2019/HS-ST ngày 18/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 57/2019/HS-ST NGÀY 18/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 7 năm 2019, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019/QĐXXST-HS ngày 04/7/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1988, tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Trú tại: Bản M, xã Q, huyện To, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 5; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không. Con ông Lò Văn Th (đã chết) và con bà Lò Thị Th, sinh năm 1967. Vợ là Lò Thị L; sinh năm 1999 và có 02 người con. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án lần nào, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Tạm giữ từ ngày 04/5/2019, tạm giam ngày 10/5/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ, ngày 03/5/2019, Lò Văn T ra bản T, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên chơi. Khi đang đi bộ trên đường thì gặp một người đàn ông người dân tộc Mông không quen biết trông giống người nghiện. Qua trao đổi T biết người đó có bán ma túy. Trái đã đồng ý mua của người đó 01 gói Heroine giá 3.200.000đ. T nhận Heroine và hẹn người đàn ông đó trưa ngày 04/5/2019 sẽ ra bản T nhận tiền. Người đó đồng ý. T mang số Heroine mua được về nhà lấy ra một ít để sử dụng. Số còn lại chia thành 03 phần rồi dùng mảnh nilon màu trắng gói lại thành 03 gói, T cho 02 gói gói vào túi ni lon màu đen giấu trong túi quần đang mặc. Còn 01 gói gói bằng túi nilon màu xanh giấu vào quần sịp đang mặc rồi đi ngủ. Đến 13 giờ 30 phút ngày 04/5/2019, T đi đến bản T là điểm hẹn để trả tiền cho người đàn ông đó thì bị Tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo phát hiện và thu giữ toàn bộ số Heroine trên.

Ngày 04/5/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định, xác định 02 gói Heroine thu giữ trong túi quần của bị cáo có khối lượng 19,22 gam và 01 gói Heroine màu xanh cất giấu trong quần sịp có khối lượng 1,33 gam. Trích lấy 0,33 gam làm mẫu vật gửi giám định và niêm phong 20,22 gam Heroine còn lại.

Tại bản kết luận giám định số: 513/GĐ-PC09 ngày 22/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn T là chất ma túy: loại Heroine; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Bản cáo trạng số: 63/CT-VKS-TG ngày 01/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm tù, không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên hủy 01 gói Heroine được niêm phong có khối lượng còn lại là 20,22 gam Heroine. Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động và 01 chứng minh nhân dân. Tịch thu sung quỹ nhà nước 3.204.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, thừa nhận gói Heroine bị cơ quan điều tra thu giữ là của bị cáo mua về để sử dụng vì bản thân nghiện ma túy. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nội dung vụ án: Từ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong khi thực hiện nhiệm vụ tại bản T, xã Q, huyện T, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đã phát phát hiện bắt giữ Lò Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của bị cáo 02 gói Heroine được cất giấu trong túi quần, 01 gói Heroine được cất giữ trong quần sịp trái đang mặc trên người, nội dung này được thể hiện tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng lập ngày 05/5/2019, xác định khối lượng 03 gói chất bột màu trắng đục nghi Heroine thu được có khối lượng là 20,55 gam. Kết quả giám định được kết luận là chất ma túy, loại Heroine.

Các trình tự thủ tục trên được tiến hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự và thể hiện tính chính xác, khách quan của vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và bị bắt quả tang như đã khai nhận tại giai đoạn điều tra. Bị cáo khai mục đích tàng trữ Heroine là để sử dụng vì bản thân nghiện ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và giai đoạn điều tra hoàn toàn phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng vật chứng; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận vào hồi 13 giờ, ngày 04/5/2019 bị cáo Lò Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 20,55 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ Heroine của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS. Vì vậy VKSND huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm sự độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ra nạn nghiện ma túy, tàn phá sức khỏe kinh tế và nhân cách con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nên cần xử lý nghiêm minh.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy rằng: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo. Đó là tình tiết giảm nhẹ TNHS qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bản thân là một thanh niên có sức khỏe, có học hành nhưng không chịu khó rèn luyện bản thân. Vì lối sống buông thả, bị cáo nghiện ma túy. Đó là nguyên nhân dẫn bị cáo vào con đường phạm tội.

Bởi vậy cần áp dụng hình phạt tù giam để cải tạo giáo dục bị cáo như mức đề nghị của VKS là phù hợp.

[2] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có điều kiện kinh tế nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về vật chứng của vụ án: 01 gói niêm phong Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành cần áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu để hủy. Đối với chiếc điện thoại di động là của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 3.204.000đ của Lò Văn T là số tiền dùng vào việc phạm tội cần áp dụng điều 47 BLHS tịch thu sung quĩ nhà nước.

[4] Các vấn đề khác: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không làm rõ được người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên HĐXX không có căn cứ xem xét xử lý.

[5] Về án phí: Bị cáo là bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[6] Hành vi tố tụng: Các Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng qui định của pháp luật tố tụng thể thể hiện được tính chính xác, khách quan của vụ án. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a Khoản 2, Khoản 3 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 06 (sáu) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/5/2019.

3. Vật chứng: Tuyên tịch thu để hủy 01 (một) gói được niêm phong màu trắng các mép được dán kín bên trong có chứa mẫu số 1 là 19,08 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, mẫu số 2 là 1,14 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, 01 mảnh nilon màu đen, 03 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh và 02 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng. Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lò Văn T. Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 3.204.000đ (ba triệu hai trăm linh bốn nghìn đồng).

Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2019).


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HS-ST ngày 18/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:57/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về