Bản án 57/2019/HS-ST ngày 14/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 57/2019/HS-ST NGÀY 14/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 tại xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn Nghĩa A, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn HoA và bà Nguyễn Thị Thanh; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Chưa có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2019 đến ngày 29/3/2019. Hiện tại ngoại (có mặt).

- Người bị hại: anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn Nghĩa A, P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1976 trú tại thôn Nghĩa A, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có cửa hàng kinh doanh mua bán xe máy cũ tại nhà. Năm 2016, Anh Y nhận Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 trú tại thôn Nghĩa A, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang vào làm công việc sửa chữa xe máy. T làm được một thời gian thì nghỉ. Đến khoảng tháng 11 năm 2018 T lại xin vào làm việc tại cửa hàng của Anh Y. Ngày 29/01/2019 Anh Y có mua của Anh Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1990 ở xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu sơn trắng, số khung 1252FY161808, số máy HC12B7161882, biển số 98B2-753.28 để bán khi được giá. Do kính ốp biển số xe bị vỡ nên Anh Y bảo T tháo ra để thay kính khác, T đã tháo biển số ra nay chưa lắp lại. Ngày 02/02/2019 (tức ngày 28/12 âm), T vẫn làm việc tại cửa hàng của Anh Y. Do đã giáp Tết Kỷ Hợi, bí tiền nên T đã nảy ý định trộm cắp xe mô tô tại cửa hàng của Anh Y mang bán lấy tiền chi tiêu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, lợi dụng khi Anh Y không có ở nhà, vợ Anh Y đang bận trông con ở trong phòng không có ai quản lý cửa hàng, T đã mang chiếc xe mô tô biển số 98B2-753.28 ra khu vực phía trước cửa hàng để vờ lau, rửa. Sau khi quan sát xung quanh thấy không có ai để ý, T đã điều khiển xe đi ra khu vực ngã ba gần nhà T và để xe ở đó rồi đi bộ quay lại cửa hàng của Anh Y làm việc bình thường. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày, sau khi hết giờ làm việc buổi chiều và cũng hôm đó T được nghỉ tết, T đi ra vị trí cất xe mô tô trộm cắp được rồi điều khiển xe đến khu vực thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam chơi điện tử. Ngày 09/02/2019 T nhờ bạn là Nguyễn Ngọc Tú, sinh năm 2001 ở thôn A Thịnh, xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang chỉ chỗ cầm cố xe. Tú đồng ý dẫn T đến nhà anh Khúc Ngọc T, sinh năm 1985 ở tổ dân phố Phố, thị trấn Lục Nam, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để cầm cố chiếc xe do T trộm cắp được 4.000.000 đồng. Số tiền này T khai đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 19/02/2019, T gặp và nói với Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1996 ở thôn V, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là T có một chiếc xe mô tô đang cắm ở chỗ anh Khúc Ngọc T chưa có tiền chuộc, T bảo Anh P có tiền thì chuộc xe ra làm phương tiện đi lại, P đồng ý và đưa cho T số tiền 4.500.000 đồng để đi chuộc xe. T nhờ Tú dẫn đi chuộc xe, trên đường đi T đưa cho Tú số tiền 4.200.000 đồng để Tú vào chuộc xe. Sau khi chuộc được xe, T giao lại xe cho Anh P. Ngày 23/3/2019 Anh P mang chiếc xe này ra cửa hàng mua bán xe máy của Anh Y để cầm cố, thấy xe P mang đến giống chiếc xe của Anh Y bị mất trộm trước đây, Anh Y đã kiểm tra thì phát hiện chiếc xe của P đi chính là chiếc xe máy của Anh Y bị trộm cắp. Anh Y đã làm đơn trình báo sự việc với Công an xã P, huyện Lục Nam, đồng thời giano nộp chiếc xe mô tô này cho Công an xã P để làm căn cứ giải quyết vụ việc. Cùng ngày T đến Công an xã P đầu thú về hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô ở cửa hàng của Anh Y vào ngày 02/02/2019.

Ngày 23/3/2019, Công an xã P đã báo cáo vụ việc và bàn giao hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 25/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam có văn bản yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam tiến hành định giá chiếc xe mô tô nói trên của Anh Y. Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 26/3/2019 xác định chiếc xe Wave α, nhãn hiệu Honda, màu sơn trắng, số khung 1252FY161808, số máy HC12B7161882, biển số 98B2-753.28 trị giá 11.040.000 đồng.

Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc Tú là người đưa T đi cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2-753.28, Nguyễn Văn P đã chuộc chiếc xe này ra để làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định Tú và P đều không biết chiếc xe này do T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đi với Khúc Ngọc T là người nhận cầm cố của T chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2-753.28. Quá trình điều tra xác định Khúc Ngọc T không biết chiếc xe này do Nguyễn Văn T trộm cắp được. Tuy nhiên, việc Khúc Ngọc T nhận cầm cố chiếc xe máy trên khi không có giấy tờ xe đã vi phạm vào điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định 76/NĐ-CP. Ngày 28/5/2019, Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khúc Ngọc T, mức phạt 3.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam đã tạm giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn trắng đen bạc, số khung 1252FY161808, số máy HC12B7161882 không có biển kiểm soát; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, số khung 1252FY161808, số máy HC12B7161882, biển kiểm soát 98B2-753.28. Ngày 20/4/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nói trên cho anh Nguyễn Văn Y theo quy định. Anh Y đã nhận lại tài sản và yêu cầu Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh số tiền 5.000.000 đồng do một số phụ T của xe đã bị thay thế.

Đi với biển kiểm soát 98B2-753.28: Nguyễn Văn T khai nhận trong thời gian sửa xe T đã tháo biển kiểm soát ra để ở cửa hàng của Anh Y, khi T thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe trên không có biển kiểm soát. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam đã tiến hành truy tìm nay không thấy.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Nam, Nguyễn văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKS ngày 18/6/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam trình bày lời luận tội, phân tích hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quA điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điều luật và xử phạt đối với bị cáo như sau:

Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam.

Phạt bị cáo 5.000.000đ sung quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 5.000.000đ. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ căn cứ kết luận:

Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 trú tại thôn Nghĩa A, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là người làm thuê tại cửa hàng mua bán xe máy của anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1976 ở thôn Nghĩa A, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 14 giờ ngày 02/02/2019, Nguyễn Văn T lợi dụng sơ hở đã trộm cắp của Anh Y chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn trắng đen bạc, số khung 1252FY161808, số máy HC12B7161882 rồi mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu. Đến ngày 23/3/2019, T đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Trị giá tài sản do T trộm cắp xác định là 11.040.000 đồng.

[3]. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị ann ở địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Công an xã P đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

[5]. Từ những phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, đang trong độ tuổi lao động có điều kiện thi hành án nên ngoài hình phạt chính là phạt tù cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là 5.000.000đ.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, người bị hại anh Nguyễn Văn Y yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền 5.000.000đ. Bị cáo đồng ý trả cho Anh Y số tiền trên nên cần được chấp nhận.

[8]. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Nguyễn Ngọc Tú là người đưa T đi cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2-753.28, Nguyễn Văn P đã chuộc chiếc xe này ra để làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định Tú và P đều không biết chiếc xe này do T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với Khúc Ngọc T là người nhận cầm cố của T chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2-753.28. Quá trình điều tra xác định Khúc Ngọc T không biết chiếc xe này do Nguyễn Văn T trộm cắp được. Tuy nhiên, việc Khúc Ngọc T nhận cầm cố chiếc xe máy trên khi không có giấy tờ xe đã vi phạm vào điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định 76/NĐ-CP. Ngày 28/5/2019, Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khúc Ngọc T, mức phạt 3.500.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: Khon 1, khoản 5 Điều 173; Điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ số ngày bị tạm giữ, tạm giam từ 23/3/2019 đến 29/3/2019.

Phạt bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Tch nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Y 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo, người bị hại có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.


27
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về