Bản án 57/2019/HSST ngày 11/09/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 57/2019/HSST NGÀY 11/09/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2019/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Thanh T, sinh năm 1994 Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn ĐP, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Lê Thị Hồng T; bị cáo có vợ và 02 người con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019 ; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2019 cho đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Điểu S, sinh năm 1999 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện ĐB, tỉnh Bình Phước.

2. Điểu B, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện ĐB, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 15 giờ ngày 25 tháng 3 năm 2019, Điểu S gọi điện di động cho Lê Thanh T hỏi mua 02 gói ma túy đá, 01 gói giá 500.000 đồng và 01 gói giá 300.000 đồng, T nói S ra đập thủy lợi thuộc khu Đ, thị trấn ĐP, huyện ĐB, tỉnh Bình Phước để giao ma túy. Khi ra gặp T, S chỉ có 400.000 đồng, nên S chỉ mua gói 500.000 đồng, S thiếu T 100.000 đồng. T giao cho S 01 gói ma túy, rồi T rủ S cùng nhau sử dụng ma túy. Sử dụng xong, T và S đi về thì bị Công an huyện Bù Đăng phối hợp cùng Công an thị trấn ĐP kiểm tra phát hiện trên người T có 05 gói chất rắn (nghi là ma túy đá) và S có 01 gói chất rắn (nghi là ma túy đá), nên Cơ quan công an đã lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong tang vật có chữ ký của T và S. Ngoài ra, Cơ quan công an còn thu giữ: 02 điện thoại di động (01 loại NOKIA 1280 và 01 loại NOKIA X1-01); 01 xe mô tô biển kiểm soát: 93P2 - 084.XXvà 600.000 đồng.

Quá trình điều tra, T còn khai nhận từ tháng 02 đến tháng 3 năm 2019 T đã bán ma túy cho Điểu S 02 lần: 01 lần giá 500.000 đồng có Điểu B đi cùng và 01 lần giá 300.000 đồng có Điểu Nhung đi cùng, đồng thời T khai nhận nguồn gốc ma túy đá bán cho Điểu S là do T mua của người tên Phượng (không rõ nhân thân, lai lịch) ở huyện Đồng phú, tỉnh Bình Phước mang về bán lại cho các con nghiện để thu lợi bất chính.

Ti bản giám định số 79/2019/GĐ-MT ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng có trong 05 gói nylon (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,6500gam, loại Methamphetamine và Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon (ký hiệu M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,0281gam, loại Methamphetamine.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong; 02 điện thoại di động; 01 xe mô tô biển kiểm soát: 93P2 - 084.XXvà 600.000 đồng. Cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Ti bản cáo trạng số: 59/CT-VKS-BĐ ngày 23/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lê Thị Như Ý về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ti phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”; về hình phạt:

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 07 đến 08 năm tù.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo qui định của pháp luật.

Bị cáo Lê Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Li nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào ngày 25/3/2019 Lê Thanh T đã có hành vi bán 01 gói ma túy cho Điểu S với giá 500.000 đồng tại khu Đ, thị trấn ĐP, huyện ĐB, tỉnh Bình Phước. Ngoài ra trong khoảng thời gian từ tháng 02/2019 đến tháng 03/2019 bị cáo còn bán ma túy cho Điểu S 02 lần, một lần với giá 500.000 đồng và một lần với giá 300.000 đồng tại khu vực thôn 7, xã Đoàn Kết, huyện ĐB, tỉnh Bình Phước.

Qua giám định 05 gói nylon (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,6500gam; 01 gói nylon (ký hiệu M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,0281gam, loại Methamphetamine.

Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã phạm vào “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 251. Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Bộ luật hình sự 2015 quy định.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vì vụ lợi vẫn cố ý phạm tội, là thể hiện thái độ coi thường pháp luật.

Xét toàn bộ vụ án, tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 02 con còn nhỏ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015. Cần tiêu hủy Số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong ký hiệu M1 và M2 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước;

Cần quản thủ số tiền 600.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Cần tịch thu sung công quỹ 01 chiếc xe Sirius biển số giả 93P2 - 084.XXsố khung RLCS5C640AY388XXX; số máy 5C64-388XXX bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Cần tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Nokia X1 và 01 chiếc điện thoại Nokia 1280.

Cần buộc bị cáo Lê Thanh T nộp số tiền 1.200.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đi với Điểu S và Điểu B, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bù Đăng đã lập hồ sơ giao cho chính quyền địa phương xử lý bằng hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo NĐ 111- CP nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đi với Điểu B khai nhận đã mua ma túy của bị cáo 05 lần. Tuy nhiên, bị cáo không thừa nhận và cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ xử lý.

Đi với người tên Phượng bán ma túy cho T, nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2019.

[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu tiêu hủy Số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong ký hiệu M1 và M2 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước;

Tuyên quản thủ số tiền 600.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Tuyên tịch thu sung công quỹ 01 chiếc xe Sirius biển số giả 93P2 - 084.XXsố khung RLCS5C640AY388XXX; số máy 5C64-388XXX.

Tuyên tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Nokia X1 và 01 chiếc điện thoại Nokia 1280.

Tuyên buộc bị cáo Lê Thanh T nộp số tiền 1.200.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0009XXX ngày 31/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng) [3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HSST ngày 11/09/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:57/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về