Bản án 57/2019/HS-ST ngày 03/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 57/2019/HS-ST NGÀY 03/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2019/TLST-HS ngày 29/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M (Tên gọi khác là N), sinh năm 1998 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Ấp A, xã B, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà M Kim C; bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 13/8/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Xuyên Mộc. (Bị cáo có mặt).

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Tổ X, Ấp T, xã B, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Hàng Văn T, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ N, Ấp A, xã B, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có mặt”

2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ Z, Ấp A, xã B, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng mặt”

3. Bà Lê Thị Kim Đ, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ K, Ấp L, xã B, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đêm 31/01/2019, Nguyễn Văn M đột nhập vào nhà ông Lê Hàng Văn T ở Ấp 2, xã B, huyện Xuyên Mộc trộm cắp 01 con gà trống đưa về phòng trọ tại Ấp A, xã B cất giấu, sau đó tiếp tục quay lại nhà ông T để trộm cắp gà, khi M vừa bắt được một con gà bỏ vào trong áo thì bị ông T phát hiện, bắt giữ và báo Công an xã B xử lý.

Tại Cơ quan Công an, M còn khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 18/8/2018, T1 (Là người ở cùng phòng trọ với M) và M rủ nhau đi trộm cắp tài sản, cả hai người thống nhất đồng ý. Khi đi, M mang theo 01 Kìm, T1 dùng xe mô tô không rõ biển số chở M đến tạp hóa của bà Nguyễn Thị L ở Ấp T, xã B. Tới nơi, T1 giấu xe vào bụi chuối gần đó, M dùng Kìm cắt lưới B40 bên hông cửa hàng tạp hóa, sau đó cả hai đột nhập vào tạp hóa, M lấy 02 bao gạo (10kg/bao) và 06 cây thuốc lá (04 cây “555” và 02 cây “CRAVEN A”), T1 lấy tiền để trong thùng gỗ và đi vào phòng ngủ lấy 01 điện thoại hiệu OPPO A71. Sau đó cả hai tẩu thoát cùng với tài sản chiếm đoạt được và đưa về phòng trọ của M và T1. Về tới phòng trọ, T1 đếm tiền chiếm đoạt được, nhưng không nói cho M biết là bao nhiêu và chia cho M 1.750.000 đồng, còn gạo và thuốc lá cả hai dùng chung. Chiếc điện thoại OPPO A71, T1 đưa cho M sử dụng, một thời gian sau M bán chiếc điện thoại cho bà Lê Thị Kim Đ với giá 1.000.000 đồng, bà Đ sử dụng một thời gian lại bán cho một người không rõ lai lịch.

Sau khi sự việc bị phát hiện T1 đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với T1, nhưng lời khai nhận của M phù hợp với hiện trường vụ việc và phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Thị L. Bà L cho rằng số tiền bị mất trong thùng gỗ là 5.000.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 02/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc xác định tại thời điểm xảy ra vụ án ngày 18/8/2018 trị giá chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A71 là 2.710.500 đồng; trị giá 04 cây thuốc “555” là 1.120.000 đồng; trị giá 02 cây thuốc “CRAVEN A” là 380.000 đồng và trị giá 02 bao gạo là 200.000 đồng; tổng giá trị tài sản thiệt hại là 4.410.500 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 02/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, xác định tại thời điểm xảy ra vụ án ngày 31/01/2019, trị giá 02 con gà của ông Lê Hàng Văn T là 1.300.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Hàng Văn T đã nhận lại tài sản của mình là 02 con gà và không yêu cầu gì thêm.

Bị hại là bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M bồi thường thiệt hại số tiền 9.410.500 đồng. Ông Nguyễn Văn S là cha của bị cáo M đã bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 9.500.000 đồng, bà L đã nhận tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm trong vụ án. Ông S đã bồi thường cho bị hại, nhưng không yêu cầu bị cáo hoặc T1 phải trả lại số tiền trên cho ông S.

Về vật chứng:

- Công an xã B, huyện Xuyên Mộc đã trả lại cho ông Lê Hàng Văn T 02 con gà.

- Đối với 04 cây thuốc “555”; 02 cây thuốc “CRAVEN A”; 02 bao gạo và số tiền 1.750.000 đồng được chia, bị cáo sử dụng và tiêu xài hết nên không thu hồi được.

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A71, bà Lê Thị Kim Đ mua về sử dụng một thời gian và bán cho người khác không rõ lai lịch nên không thu hồi được.

- Đối với chiếc Kìm bị cáo dùng cắt lưới B40, bị cáo đã làm mất không thu hồi được.

Bản cáo trạng số 57/CT-VKS-XM ngày 21/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Nguyễn Văn M tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, đề nghị không xem xét. Về vật chứng vụ án: Không thu hồi được, đề nghị không xem xét.

Đối với hành vi Nguyễn Văn M trộm cắp 02 con gà trị giá 1.300.000 đồng vào đêm 31/01/2019 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Trưởng Công an huyện Xuyên Mộc đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn M số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với Lê Thanh T1, sinh năm 1994; cư trú tại ấp A, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh hiện đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên tách riêng để tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với bà Lê Thị Kim Đ là người mua chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A71 từ Nguyễn Văn M bán, nhưng không biết do trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Đ.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuyên Mộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn M tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ ngày 18/8/2019, Nguyễn Văn M cùng với Lê Thanh T1 có hành vi lén lút đột nhập vào cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị L tại Ấp T, xã B, huyện Xuyên Mộc chiếm đoạt 5.000.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá 4.410.500 đồng (Gồm 01 chiếc điện thoại di động OPPO A71 trị giá là 2.710.500 đồng; 04 cây thuốc “555” trị giá 1.120.000 đồng; 02 cây thuốc “CRAVEN A” trị giá 380.000 đồng và 02 bao gạo trị giá 200.000 đồng); tổng thiệt hại về tài sản là 9. 410.500 đồng (Chín triệu bốn trăm mười nghìn năm trăm đồng).

Sau khi sự việc bị phát hiện Lê Thanh T1 đã bỏ trốn khỏi địa phương, Công an huyện Xuyên Mộc đang truy tìm nhưng chưa có kết quả.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi của Nguyễn Văn M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3]. Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Nguyễn Văn M tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi, coi thường pháp luật đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 31/01/2019, ông Lê Hàng Văn T bắt quả tang bị cáo trộm cắp gà của ông T nên trình báo Công an xã B, tại Cơ quan Công an bị cáo đã tự thú khai ra hành vi chiếm đoạt tài sản ngày 18/8/2018; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 và xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Ông Lê Hàng Văn T đã nhận lại tài sản của mình là 02 con gà bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo Nuyễn Văn M bồi thường 9.410.500 đồng thiệt hại về tài sản, bị cáo đồng ý nhưng chưa có tiền bồi thường. Ông Nguyễn Văn S là cha của bị cáo M đã bồi thường cho bà L số tiền 9.500.000 đồng, bà L đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Nguyễn Văn S đã bồi thường cho bị hại số tiền 9.500.000 đồng, nhưng không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M và Lê Thanh T1 phải trả lại số tiền trên cho ông S. Xét thấy đây là sự tự nguyện của ông S nên ghi nhận và dành quyền khởi kiện cho ông S đối với M và T1 bằng một vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu.

Kiểm sát viên đề nghị không xem xét phần trách nhiệm dân sự trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 con gà bị cáo chiếm đoạt của ông Lê Hàng Văn T, Công an xã B đã trả lại cho ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 04 cây thuốc “555”; 02 cây thuốc “CRAVEN A”; 02 bao gạo và số tiền bị cáo chia 1.750.000 đồng bị cáo đã sử dụng và tiêu xài hết, không thu hồi được. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A71 bị cáo bán cho bà Lê Thị Kim Đ lấy 1.000.000 đồng và bà Đ sử dụng điện thoại một thời gian lại bán cho người khác không rõ lai lịch, không thu hồi được chiếc điện thoại và số tiền bán điện thoại bị cáo đã tiêu xài hết không thu hồi được; đối với chiếc Kìm bị cáo dùng cắt lưới B40 để đột nhập vào tạp hóa của bà Nguyễn Thị L, bị cáo đã làm mất nên không thu hồi được. Do vật chứng của vụ án không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị không xem xét xử lý vật chứng của vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7]. Đối với hành vi Nguyễn Văn M chiếm đoạt 02 con gà của ông Lê Hàng Văn T ngày 31/01/2019 tại Ấp 2, xã B, huyện Xuyên Mộc, có trị giá 1.300.000 đồng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Trưởng Công an huyện Xuyên Mộc đã xử phạt vi phạm hành chính đối với M là đúng quy định.

[8]. Đối với Lê Thanh T1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp A, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuyên Mộc đã tiến hành truy tìm nhưng chưa có kết quả nên tách riêng để tiếp tục điều tra, xác minh nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[9]. Đối với bà Lê Thị Kim Đ là người mua chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A71 do Nguyễn Văn M bán, nhưng bà Đ không biết chiếc điện thoại trên do trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Đ là đúng quy định.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M (Tên gọi khác là N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M (N): 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2019.

- Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HS-ST ngày 03/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:57/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về