Bản án 56/2019/HNGĐ-ST ngày 28/08/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 56/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/08/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim L, sinh năm 1983; cư trú tại số 551, tổ 17 ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lâm Trung T, sinh năm 1984; cư trú tại ấp L, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 02 năm 2019 của chị Phạm Thị Kim L và quá trình tố tụng tại Tòa án chị L trình bày: Chị và anh Lâm Trung T tự nguyện kết hôn vào ngày 04/3/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh T không quan tâm đến cuộc sống gia đình, trong lúc chị nuôi con nhỏ thì bỏ mặc không chăm sóc, thậm chí có lúc không chu cấp lo lắng chi phí gì trong việc nuôi con. Thực tế, anh T không muốn sống chung cùng chị và cố tình lẫn tránh chị mặc dù chị đã tìm nhiều cách để liên lạc thông qua người thân của gia đình chồng. Hiện tại, chị và anh T không còn ở chung từ năm 2015 đến nay, điều kiện không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

Về phần con chung giữa chị và anh T có một người tên Lâm Gia T, sinh ngày 23/12/2013 đang ở cùng chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chị L không yêu Tòa án giải quyết.

Anh Lâm Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng pháp luật, đối với nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị Phạm Thị Kim L ly hôn với anh Lâm Trung T, giao con cho chị L nuôi, tài sản không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Phạm Thị Kim L được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Chị Phạm Thị Kim L có đơn đề nghị vắng mặt, đối với anh Lâm Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do chính đáng; căn cứ khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt chị L và anh T.

[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kim L và anh Lâm Trung T được xác lập vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết. Quá trình chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do có sự bất hòa, không tin tưởng nhau trong cuộc sống làm cho tình cảm vợ chồng bị ảnh hưởng và không giải quyết được nên tự sống riêng với nhau. Quan điểm chị L vẫn cương quyết ly hôn trong khi đó anh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt đều đó cho thấy anh Trực không có thiện chí để hàn gắn. Hiện tại, chị L và anh T mỗi người sống một nơi, thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Kim L được ly hôn với anh Lâm Trung T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Thời gian chung sống chị L và anh T có một người hiện đang ở cùng chị L, chị L có yêu cầu nuôi con trong khi đó anh T vắng mặt và không có ý kiến gì, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho chị L nuôi là phù hợp. Phần cấp dưỡng chị Loan không yêu cầu nên không xem xét.

Anh T có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.

[6] Về án phí: Chị Phạm Thị Kim L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, phần tạm ứng án phí chị L đã nộp được khấu trừ.

[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227, Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử vắng mặt Phạm Thị Kim L và anh Lâm Trung T.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phạm Thị Kim L được ly hôn với anh Lâm Trung T.

Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị Kim L được nuôi tên Lâm Gia T, sinh ngày 23/12/2013 đang ở cùng chị. Phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Anh T có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không đươc lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị L.

Về chia tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Phạm Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng, chị L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005643 ngày 25/3/2019 được khấu trừ.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2019/HNGĐ-ST ngày 28/08/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:56/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về