Bản án 56/2018/HS-ST ngày 09/03/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HOÀ

BẢN ÁN 56/2018/HS-ST NGÀY 09/03/2018 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN             

Ngày 09 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 426/2017/TLST- HS ngày 26/12/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 10/01/ 2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN THANH S – Sinh năm 1991; Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã Đ,Tp. T; Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Đ,Tp. T; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: thủ kho; Cha: Nguyễn Văn S– sinh năm 1964; Mẹ: Nguyễn Thị V– sinh năm 1962; Vợ: Cao Thị Ngọc V – sinh năm 1991; Con: Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Năm 2007 bị công an xã P, thị xã C, tỉnh Yxử phạt vi phạm hành chính với số tiền 150.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

- Bản án số 44/2010/HSST ngày 17/11/2010 của Toà án nhân dân thị xã C xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

- Bản án 128/2010/HSPT ngày 29/11/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Y xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà

- Bị hại:

Công ty cổ phần V Trụ sở: ĐảoT, phường N, Tp. T.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Lê Hoàng Thiên H vắng mặt tại phiên toà
 
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Thu T – Sinh năm: 1981 Trú tại: 420/12 đường P, phường L,Tp. T.

Vắng mặt tại phiên toà

2/ Công ty TNHH Vận tải Quốc V Trụ sở: thôn Đ, xã Đ, thị xã H, tỉnh H.

*Người làm chứng:

1/ Ông Nguyễn Huy C – Sinh năm 1969 Trú tại: Tổ dân phố H, thị xã H, tỉnh H.

Vắng mặt tại phiên toà

2/ Ông Trần Quốc D – sinh năm 1987

Trú tại: xã A, thị xã H, tỉnh H Vắng mặt tại phiên toà

3/ Bà Trần Thị P – sinh năm 1971

Trú tại: thôn Đ, xã Đ, thị xã H, tỉnh H Vắng mặt tại phiên toà

4/ Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1989

Trú tại: Tổ 1, phường H, Tp. T

Vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh S là nhân viên làm việc theo hợp đồng của Công ty TNHH tư vấn và xây dựng V. Theo hợp đồng đã ký kết, Sơn được phân công làm việc tại Khối xây dựng/BQLXD V, có trách nhiệm lưu giữ, quản lý, trông coi, sử dụng, bảo quản tài sản của Công ty tại kho vật tư khu đồi phát sóng đảoT. Trong kho có vật tư được giao nhận bằng phiếu xuất, nhập kho và một số lượng lớn phế liệu vật tư sau thi công. Trong quá trình làm việc Nguyễn Thanh S nảy sinh ý định chiếm đoạt số phế liệu vật tư trong kho của Công ty để bán lấy tiền tiêu xài.

Ngày 16/9/2017, Nguyễn Thanh S liên hệ với Nguyễn Thu T để bán sắt phế liệu, T đồng ý và thuê xe ô tô tải loại 8 tấn (BKS: 79C – 102.78) của Công ty TNHH vận tải Quốc V do ông Nguyễn Huy C và ông Trần Quốc D là tài xế điều khiển để thực hiện thoả thuận mua bán sắt phế liệu với S. Ngày 17/9/2017 S hướng dẫn cho ông C và ông D điều khiển xe tải từ đất liền qua kho vật tư đồi phát sóng đảo T. Sau khi bốc số sắt phế liệu lên xe, S ký phiếu xuất các mặt hàng tổng hợp số 027079 ngày 17/9/2017 giao cho ông C và ông D. Khi ông C và ông D điều khiển xe đến cảng phà chờ của V thì bị tổ bảo vệ của V kiểm tra phát hiện thiếu xác nhận của Ban quản lý xây dựng thuộc công ty cổ phầnV, nên tạm giữ xe tải cùng số sắt phế liệu trên xe và đưa D và C đến Công an phường N, thành phố T để trình báo vụ việc.

Ngày 18/9/2017 Nguyễn Thanh S đến Công an phường N đầu thú. Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Bản kết luận định giá tài sản số: 328/HĐĐG ngày 04/10/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - UBND Tp. T kết luận: sắt vụn 3.510kg giá trị: 15.093.000đ

Tang vật vụ án: Sắt vụn 3.510kg đã trả cho Công ty cổ phần V Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 20/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh S khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phốT. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ thu thập được thẩm tra công khai tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận, cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 20/12/2017  của Viện kiểm sát nhân dân thành phố  T truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang trình bày quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Sơn 03 tháng đến 06 tháng tù.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh S có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù và đóng án phí đầy đủ nên đã được xoá án tích. Đáng lý bị cáo nên lấy đó làm bài học để răn đe bản thân mình để sống tốt hơn nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo S là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần được ấn định bằng một mức hình phạt tương xứng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh S đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản bị hại cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại. Bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình có mẹ là người có công với cách mạng, là lao động chính của gia đình, có một con mới sinh năm 2017 nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Theo hồ sơ vụ án thể hiện Công ty cổ phần V đã nhận lại tài sản. Tại phiên toà sơ thẩm, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe tải nhãn hiệu Deawoo, loại 8,5 tấn, BKS 79C - 10278 đã trả cho ông Nguyễn Quốc V (theo bút lục số 93).

Về án phí:  Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 140; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:  Tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu.

Về án phí:  Bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2018/HS-ST ngày 09/03/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:56/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về