Bản án 56/2017/HSST ngày 29/08/2017 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 56/2017/HSST NGÀY 29/08/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Ngày 29 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2017/HSST ngày 05/7/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý A N (Tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1981; tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên; Trú tại: Nhóm T, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông: Lý A M (SN: 1950) và bà Hạng Thị S (SN: 1952); Có vợ là Hạng Thị S (SN: 1982) và có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn dân sự: Cộng đồng bản N, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên.

Đại diện hợp pháp: Anh Lỳ Pé H (SN: 1985) - Trưởng bản - Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Trú tại: Bản N, xã Ch, huyện M, Điện Biên.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lý A N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, đất canh tác cũ đã bạc màu nên Lý A N đã chọn khu rừng cách nhà khoảng 01 giờ đi bộ để phát làm nương. Khoảng 07 giờ ngày 03/3/2017 Lý A N đi bộ một mình từ nhà mang theo 01 con dao phát và 01 (một) chiếc búa chặt, khoảng 08 giờ thì đến khu rừng đã chọn và dùng dao, búa để chặt phá rừng. Đến 09 giờ ngày 07/3/2017 trong khi N đang phát rừng trái phép tại khu rừng trên thì bị tổ công tác liên ngành xã Ch phát hiện, lập biên bản đối với hành vi hủy hoại rừng, thu giữ của N 01 con dao và 01 chiếc búa. Diện tích rừng Lý A N chặt phá là 6.282 m2. Mức độ thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng của Lý A N là 100%.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/3/2017 đã xác định: Tổng diện tích rừng bị phá là 6.282m2, là rừng phòng hộ có vị trí tại khoảnh 5, tiểu khu 110 thuộc địa giới hành chính xã Ch, huyện M do cộng đồng bản N quản lý, bảo vệ (Đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tổng số khối lượng gỗ mà Lý A N đã chặt phá là: 14,109 m3; khối lượng củi: 9,385 m3 và 778 cây tre.

Tại kết luận định giá tài sản số 15 ngày 28/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M, xác định tổng giá trị thiệt hạị do Lý A N gây ra là 31.680.000đ (Ba mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 35/QĐ-VKS-HS ngày 03 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố Lý A N về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, nhưng trong lời luận tội đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189, điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lý A N từ 18 đến 24 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 con dao và 01 chiếc búa là vật chứng của vụ án. Áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 BLDS, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng, buộc bị cáo Lý A N phải bồi thường thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 31.680.000 đồng. Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.

Bị cáo Lý A N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận gì. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, đại diện nguyên đơn dân sự.

XÉT THẤY

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào các ngày 03 và 07 tháng 3 năm 2017, Lý A N đã dùng 01 con dao và 01 chiếc búa để chặt phá diện tích rừng 6.282 m2, là rừng phòng hộ, có vị trí tại khoảnh 5, tiểu khu 110 thuộc địa giới hành chính xã Ch, huyện M do Cộng đồng bản N quản lý, bảo vệ. Tổng giá trị thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng mà N gây ra là 31.680.000đ (Ba mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng) là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi phá rừng trái phép nhằm mục đích làm nương của bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS, đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn lấy đất để làm nương bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại lớn về môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện M. Do vậy cần xử lý bị cáo có mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng là 31.680.000đ cho Nhà nước để khắc phục hậu quả. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 41 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cần được chấp nhận bởi lẽ: Hành vi phạm tội của bị cáo theo khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm là nhẹ hơn khung hình phạt từ 7 đến 15 năm theo khoản 3 Điều 189 LHHS năm 1999. Do đó cần áp dụng những quy định có lợi cho bị cáo theo hướng đẫn của Nghị quyết 41 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo còn nhiều khó khăn, là hộ nghèo, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 điều 189 BLHS đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã gây thiệt hại về rừng do đó phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: 01 con dao và 01 chiếc búa là công cụ Lý A N dùng để chặt phá rừng đã hết giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Xét thấy gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo (Theo Giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên cấp năm 2017) và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lý A N phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 sửa đổi. Xử phạt bị cáo Lý A N 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/3/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng: Buộc bị cáo Lý A N phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 31.680.000đ, được trừ đi số tiền 31.680.000đ đã nộp.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao và 01 chiếc búa đã niêm phong là vật chứng vụ án Lý A N theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2017 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyểt 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A N.

Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2017), đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.


127
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về