Bản án 56/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 56/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày  19/9/2017  tại  Hội  trường,  Toà  án  nhân  dân  thành  phố  Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 302/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2017 về việc “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2017/QĐXX ST- HNGĐ ngày 11/8/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1978. HKTT: Tổ E, phường L, TP. TH, tỉnh Thái Nguyên

(Có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Lưu Đức T, sinh năm 1976.

Tạm trú: Tổ E, phường L, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 09/5/2017 và các lời khai tại Tòa án chị Trần Thị T (nguyên đơn) trình bày:

Chị và anh Lưu Đức T kết hôn năm 2000, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu kết hôn, hai anh chị chung sống với nhau bình thường và có một con gái tên Lưu Thị H, sinh ngày 25/12/2001. Sau đó hai vợ chồng về sống chung trên đất của mẹ đẻ chị tại tổ E, phường L, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Đến năm 2010, bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T nhiều lần say rượu đánh đập chị có lần phải đi viện khâu 4 mũi. Chị T xác định không thể tiếp tục chung sống với anh T do không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng không cải thiện, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lưu Thị H, sinh ngày 25/12/2001. Chị T đề nghị được nuôi con chung là Lưu Thị H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Tự thỏa T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài liệu chứng cứ: Chị T đã giao nộp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ: Đăng ký kết hôn giữa chị T, anh T (bản chính); Giấy khai sinh con chung (bản công chứng); Sổ hộ khẩu chị T; sổ tạm trú của anh T (công chứng); chứng minh nhân dân (công chứng);.

Bị đơn anh Lưu Đức T tại bản tự khai đề ngày 18/5/2017 và ngày 06/6/2017 trình bày: Anh T công nhận lời khai của chị T về thời gian kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Do anh hay say rượu, vợ chồng đánh chửi nhau nhiều lần nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nhưng anh xác định vẫn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn

Về con chung: Nếu phải ly hôn anh đồng ý để chị T nuôi con chung là Lưu Thị H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo khả năng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Tự thỏa T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành lấy lời khai, hòa giải nhưng không thành. Chị T giữ nguyên quan điểm đề nghị ly hôn với anh T nhưng anh T không đồng ý. Vì vậy vụ án phải được đưa ra xét xử ngày hôm nay.

Trong phần tranh tụng, chị T giữ nguyên quan điểm khởi kiện là đề nghị được ly hôn với anh T đồng ý để chị T được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Lưu Thị H, sinh ngày 25/12/2001 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh T sẽ cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị T và bị đơn anh Lưu Đức T đều đang cư trú tại tổ E, P. L, TP. TH, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28; Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên là đúng quy định. Các tài liệu chứng cứ các bên nộp cho Tòa án đều đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Lưu Đức T là hợp pháp. Từ năm 2010 chị T và anh T bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T nhiều lần say rượu đánh đập chị T, do bất đồng về quan điểm sống, suy nghĩ. Như vậy, có thể khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh T là mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T đề nghị ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: Có 01 con gái tên là Lưu Thị H, sinh ngày 25/12/2001. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T và chị T nhất trí thỏa T, chị T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là Lưu Thi H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh T sẽ cấp dưỡng nuôi cháu theo khả năng. Tại phiên tòa hôm nay chị T giữ nguyên yêu cầu trên.

Hội đồng xét xử thấy sự thỏa T của hai bên là tự nguyện, nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Lưu Thị H, sinh ngày 25/12/2001 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án không giải quyết vì chị T không có yêu cầu.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết do hai bên không có yêu cầu.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sáchnhà nước.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015. Áp dụng Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T. Cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Lưu Đức T.

2. Về con chung: Giao cháu Lưu Thị H, sinh ngày 25/12/2001 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án không giải quyết vì chị T không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

4. Án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0005125 ngày 15/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:56/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về