Bản án 55/2020/HS-ST ngày 11/08/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 55/2020/HS-ST NGÀY 11/08/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 8 năm 2020 tại hội trường xét xử Hình sự, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Trương Công C, sinh ngày 26/12/1987 tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố 6, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Công H và bà Hoàng Thị S; có vợ Thạch Thị P và 01 con, sinh năm 2016; tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân:

- Ngày 05/1/2007, bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 05/2007/HSST. Áp dụng khoản 5 Điều 227 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trả tự do tại phiên tòa. (Đã chấp hành xong Bản án).

- Ngày 17/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà T, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 26/2010/HSST, thi hành án trại Trại giam Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 26/01/2014 chấp hành xong hình phạt tù. (Đã chấp hành xong Bản án).

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2020 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Anh Trần Văn C, sinh năm 1982; trú tại: Tổ dân phố 6, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/3/2020, Trương Công C đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên C đi bộ từ nhà, đi dọc các tuyến đường ở thành phố H để tìm người bán ma túy. Khi đi đến đường Nguyễn Xuân L, thuộc phường T, thành phố H, thì Trương Công C gặp một người bạn nghiện (C không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này). Người đàn ông này hỏi C đi đâu thì C nói “đi tìm hàng chơi”, ý là đi mua ma túy về sử dụng. Người này liền đưa cho Cường 01 gói giấy bạc và nói “cầm mà sử dụng”. Biết đây là ma túy Heroine, C cầm lấy rồi bỏ và túi quần phía trước, bên phải mà C đang mặc trên người. Sau đó, người đàn ông cho C ma túy đi đâu không rõ, còn C đi dọc đường Nguyễn Xuân L để tìm nơi sử dụng ma túy. Đến 08 giờ 50 phút ngày 30/3/2020, khi Trương Công C đang đi bộ trên đường Nguyễn Xuân L, thuộc tổ dân phố 3, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố H phát hiện, bắt quả tang C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải mà C đang mặc trên người 01 gói giấy bạc kích thước khoảng 1,5cm x 1,5cm bên trong đựng cục chất bột nén màu trắng. Trương Công C khai nhận đó là Heroine mà C vừa được một người bạn nghiện cho để sử dụng. Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số 79/GĐMT-PC09 ngày 31/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất bột nén màu trắng chứa bên trong một bọc giấy bạc, kích thước 1,5cm x 1,5cm gửi đến giám định là ma túy Heroine, có khối lượng 0,1558 gam. Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Vật chứng vụ án: 01 gói giấy bạc kích thước 1,5cm x 1,5cm bên trong chứa 0,1558 gam Heroine thu giữ tại Trương Công C, trừ mẫu giám định còn 0,1270 gam Heroine (đã được niêm phong) được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

Bản cáo trạng số 55/CT-VKSTPHT ngày 03/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Trương Công Cường về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Trương Công C từ 18 đến 24 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo Trương Công C không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được sai phạm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người chứng kiến đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường T, thành phố H lập hồi 8 giờ 50 phút ngày 30/3/2020 tại đường N thuộc tổ dân phố 3, phường T, thành phố H;

phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với các vật chứng vụ án được thu giữ; Kết luận giám định số 79/GĐMT-PC09 ngày 31/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xác định được: Vào hồi 08 giờ 50 phút ngày 30/3/2020, tại khu vực đường N, thuộc tổ dân phố 3, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Trương Công C đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1558gam Heroine để sử dụng thì bị Công an phường T, thành phố Hà Tĩnh bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Bị cáo Trương Công C có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Trương Công C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; bố bị cáo là người có công được tăng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Công C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với người đàn ông cho Cường ma túy, không xác định được tên tuổi, lý lịch nên Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được.

[7] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bên trong có 0,1270 gam Heroine (đã trừ mẫu vật giám định) đựng trong túi nilon; một mảnh giấy bạc cùng các loại bao gói khác.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Trương Công C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Trương Công C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2020.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bên trong có 0,1270 gam Heroine (đã trừ mẫu vật giám định) đựng trong túi nilon; một mảnh giấy bạc cùng các loại bao gói khác.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 14giờ 30 phút ngày 3/7/2020 giữa cán bộ Cơ quan điều tra Công an thành phố H và cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, buộc bị cáo Trương Công C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về