Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 55/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/11/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2019 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thái Thị Anh T, sinh năm 1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: thôn D, xã D, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Bị đơn: Anh Lê Quốc D, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Trú tại: thôn D, xã D, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 17/7/2019, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Thái Thị Anh T trình bày: Vào năm 2013 anh, chị đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã D, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, cách sống, hay cãi nhau vì những việc nhỏ nhặt trong gia đình, anh D thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, đe dọa đánh đập chị, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là cháu Lê Anh K, sinh ngày 27/8/2013. Nếu ly hôn thì chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Anh K cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ: chị Thái Thị Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung không có.

- Đối với anh Lê Quốc D. Trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả các văn bản của Tòa án đều được tống đạt hợp lệ cho anh D, nhưng anh D không đến Tòa án làm việc. Nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã phối hợp với chính quyền địa phương lập biên bản về việc không tống đạt được văn bản của Tòa án và niêm yết theo quy định của pháp luật để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.

- Kết quả thu thập chứng cứ:

Ti biên bản xác minh ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil: Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T, anh D là do anh D không có công việc ổn định, không chăm lo cuộc sống gia đình nên không khí trong gia đình luôn căng thẳng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thái Thị Anh T.

Chị Thái Thị Anh T được ly hôn với anh Lê Quốc D.

- Về con chung: Giao cháu Lê Anh K, sinh ngày 27/8/2013 cho chị Thái Thị Anh T trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.

- Về tài sản và công nợ: Không có.

- Về án phí: chị Thái Thị Anh T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn anh Lê Quốc D có địa chỉ tại thôn D, xã D, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý là đúng quy định tại Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Quốc D, trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Quốc D vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng không tiến hành hòa giải được; Ngày 17/10/2019 Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã thông báo cho anh Lê Quốc D biết toàn bộ nội dung kết quả mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã hai lần được Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh Lê Quốc D vắng mặt không có lý do chính đáng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Mặt khác sự vắng mặt của anh Lê Quốc D đã không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Vì vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 91 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, anh Lê Quốc D phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là anh Lê Quốc D là phù hợp.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn chị Thái Thị Anh T:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Thái Thị Anh T và anh Lê Quốc D có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã D, huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông theo giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 26/9/2013. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, quá trình chung sống hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và đã ly thân với nhau từ tháng 7/2019 nên không còn khả năng đoàn tụ. Trong quá trình lấy lời khai tại Tòa án, chị T thừa nhận chị không còn tình cảm với anh D, không muốn tiếp tục chung sống với nhau nữa và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống vì hôn nhân vợ chồng không đạt được mục đích.

Hi đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục. Anh, chị đã không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ, hôn nhân của anh, chị thật sự không đạt được mục đích. Do vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần căn cứ vào Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T và giải quyết cho chị Thái Thị Anh T được ly hôn với anh Lê Quốc D.

[2.2] Về con chung: Giao cháu Lê Anh Kiệt, sinh ngày 27/8/2013 cho chị Thái Thị Anh T trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Lê Quốc D được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chị Thái Thị Anh T không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Thái Thị Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

n cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thái Thị Anh T.

Chị Thái Thị Anh T được ly hôn với anh Lê Quốc D.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Anh K, sinh ngày 27/8/2013 cho chị Thái Thị Anh T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Lê Quốc D được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chị Thái Thị Anh T không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014. 

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật HNGĐ năm 2014.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thái Thị Anh T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001690 ngày 03/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Đắk Nông.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:55/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Mil - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 27/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về