Bản án 55/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 55/2018/HS-ST NGÀY 29/11/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2018/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với:

Bị cáo Đinh Văn C, sinh năm 1986 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Số nhà 03, ngõ 126, tổ 12, phố N, phường L quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn C1 và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Nguyễn Thị B và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1967 (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Lê Văn C2, sinh năm 1963.

nh Lê Quang C3, sinh năm 1989.

Chị Lê Thị Kim H4, sinh năm 1995.

Đều đăng ký hộ khẩu trường trú và cư trú tại: Thôn T, xã T1, huyện P, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn C2 và chị Lê Thị Kim H4 là: Anh Lê Quang C3 có địa chỉ trên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/8/2018, Đinh Văn C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát: 29D – 517.62 trên đường tỉnh lộ 429 theo hướng Tía đi Q, huyện Ư. Khi đi đến Km7 + 100 thuộc địa phận thông Đ, xã P1, huyện P, Thành phố Hà Nội với tốc độ khoảng 50km/h, C phát hiện thấy phía trước cách xe mình 10 m có xe mô tô biển kiểm soát 33K8 – 0405 do chị Lê Thị H, sinh năm1967 ở thôn C, xã T, P, Hà Nội đầu không đội mũ bảo hiểm đang đi hướng cùng chiều với tốc độ khoảng 40km/h, đi cách mép đường bên phải khoảng 1m. Do không làm chủ được tay lái và không đảm bảo được khoảng cách an toàn, C chân phải đạp giữ côn, chân phải đạp vào ga xe ô tô nhưng xe ô tô vẫn lao về phía trước, phần đầu bên phải xe ô tô đâm vào phần đuôi xe mô tô của chị H làm chị H bị hất văng lên kính chắn gió phía trước ô tô, rồi rơi đập xuống đường, xe mô tổ đổ về phía bên phải, còn xe ô tô tiếp tục lao xuống rệ đường bên cạnh khoảng 18 m mới dừng lại. Chị H được người dân cạnh đó đưa đi cấp cứu tại bênh viện T2. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày chị H chết tại bệnh viện T2.

Sau khi xẩy ra tai nạn, Đinh Văn C đến cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định số 165 ngày 08/8/2018 để trưng cầu giám định nguyên nhân chết của chị Lê Thị H, nhưng gia đình của chị H từ chối pháp y tử thi và chỉ cho khám ngoài nạn nhân.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi có các dấu vết như sau: Vùng đỉnh đầu có vết sây sát da kích thước (2,5 x2) cm, vùng ngực tụ máu, có dấu hiệu gẫy xương xườn bên trái và gẫy xương ức. Tại giấy chứng thương của bệnh viện đa khoa T2, Tp. Hà Nội cấp ngày 23/8/2018 chuẩn đoán chị Lê Thị H bị sốc đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín và chấn thương vùng bụng kín.

Tại kết luận giám định số 8280/KL – PC09 – DD3 ngày 23/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Tp. Hà Nội kết luận:

Dấu vết trượt xước sơn màu trắng, vỡ kính, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài bên phải ốp khung đèn pha phía trước bên phải và kính đèn pha trước bên phải ô tô biển kiểm soát 29D – 517.62 phù hợp với dấu vết trượt xước, rách cao su màu đen ở mặt ngoài phía sau bên phải ốp cao su tay nâng phía sau xe mô tô biển kiểm soát: 33K8 – 0405. Dấu vết trượt xước sơn màu trắng, lõm kim loại bám dính chất màu tím ở mặt ngoài bên phải ốp đầu xe ô tô biển kiểm soát 29D – 517.62 phù hợp với dấu vết trược xước tím, bám dính chất màu trắng ở ngoài ốp nhựa đuôi xe mô tô Biểm kiểm soát: 33K8 – 0405.

Quá trình tố tụng, bị cáo Đinh Văn C đã thỏa thuận bồi thường dứt điểm cho gia đình nạn nhân Lê Thị H số tiền 180.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 51/CT - VKS ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Đinh Văn C về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260; các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử: Phạt bị cáo Đinh Văn C từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát nhân dân, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Kiểm sát viên... trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dụng vụ án:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, của những người làm chứng và của chính bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản thu giữ vật chứng, Biên bản người có hành vi phạm tội đầu thú, Biên bản khám nghiệm tử thi, Bản kết luận giám định pháp y.. có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/8/2018, Đinh Văn C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 29D – 51762 tại đoạn đường 429 hướng T đi Q. Khi đi đến km7 + 100 thuộc địa phận thôn Đ, xã P1 huyện P, Thành phố Hà Nội do thiếu quan sát và không giữ khoảng cách an toàn, mất bình tĩnh nên C chân trái đạp côn, chân phải đạp nhầm vào ga dẫn đến đầu xe ô tô C điều khiển đâm vào đuôi xe mô tô của chị Lê Thị H đang điều khiển, hậu quả làm chị H bị chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy với hành vi và hậu quả nêu trên, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo ra trước Tòa để xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ không chỉ một phút cẩu thả đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng của công dân, vi phạm trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, làm mất trật tự trị an địa phương....khiến dư luận bất bình đòi hỏi phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạ tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, khi lượng hình, cần xem xét đến việc bị cáo quá trình tố tụng tỏ ra thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bản thân tích cực bồi thường khắc phục hậu quả; để xảy ra tai nạn nêu trên và hậu quả đáng tiếc còn có một phần lỗi của nạn nhân tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm và không có giấy phép lái xe vi phạm khoản 2 Điều 30 Luật giao thông đường bộ; sau khi bồi thường khắc phục hậu quả phía gia đình nạn nhân có đơn xin giảm nhẹ hình phạt....là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng lại tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự... nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo được hưởng án treo giao cho chính quyền địa phương và gia đình bị cáo giám sát, cải tạo, giáo dục cũng đủ để bị cáo nhận thức rõ sai lầm của mình mà tu tỉnh về sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân Lê Thị H tổng số tiền 180.000.000 đồng. Phía gia đình nạn nhân xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có đề nghị gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Ngoài hình phạt, bị cáo còn phải chịu khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử:

Phạt bị cáo Đinh Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đinh Văn C cho Ủy ban nhân dân Phường L, quận H, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Đinh Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.


113
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về