Bản án 55/2018/HNGĐ-ST ngày 02/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 55/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 03 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 56/2018/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2018 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Bích N, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp A, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Võ Văn C, sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 3 năm 2018 và biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, nguyên đơn, chị Trần Bích N trình bày:

Vào năm 2011 (không nhớ ngày tháng), chị Trần Bích N và anh Võ Văn C tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian sống chung, chị N và anh C có một con chung là Trần Võ Minh T, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2012, hiện cháu T đang sống với chị N; tài sản chung và nợ chung không có. Trong thời gian chung sống, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống không tương đồng, anh C không quan tâm, chăm sóc vợ con dẫn đến chị N và anh C thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị N và anh C đã sống ly thân từ khoảng tháng 01 năm 2013 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị N và anh C không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được nên chị N yêu cầu ly hôn với anh C, yêu cầu được tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu T và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung không có nên chị N không yêu cầu giải quyết.

Đối ý kiến của bị đơn, anh Võ Văn C: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh C đến Tòa án để hòa giải nhiều lần, nhưng anh C không gửi văn bản thể hiện ý kiến, yêu cầu của anh C đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và cũng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến, yêu cầu của anh C.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; còn bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Không công nhận chị N và anh C là vợ chồng. Về con chung, giao cháu T, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2012 cho chị N tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị N không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung, không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh C và hiện nay anh Chung cư trú tại ấp D, xã Đ, huyện V, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh C đã được triệu tập tham gia phiên hòa giải hai lần nhưng đều vắng mặt nên vụ án không hòa giải được, phải đưa ra xét xử. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm cho anh C, nhưng tại phiên tòa hôm nay, anh C vẫn vắng mặt không có lý do, còn chị Ncó đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh C.

[2] Về nội dung: Chị N yêu cầu ly hôn với anh C do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống không tương đồng, anh C không quan tâm, chăm sóc vợ con dẫn đến chị N và anh C thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, đời sống vợ chồng không hạnh phúc và chị N, anh C đã sống ly thân từ khoảng tháng 01 năm 2013 cho đến nay. Xét thấy, chị N và anh C sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2011, nhưng cho đến nay vẫn không đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không có căn cứ giải quyết yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh C mà căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình, không công nhận chị N và anh C là vợ chồng.

Về con chung, chị N yêu cầu được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu T, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2012. Xét thấy, từ khi chị N và anh C không còn sống chung với nhau đến nay, thì cháu T đã sống cùng với chị N, gắn bó và có cuộc sống ổn định với chị N. Đồng thời, anh C cũng không thể hiện có ý kiến về việc yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T nên để đảm bảo sự ổn định của cháu T, cần chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu T cho chị N tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Chị N không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định chị N và anh C không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết. Anh C không thể hiện có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về vấn đề tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, chị N phải chịu 300.000 đồng. Chị N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013065 ngày 14 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí.

[3] Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 phần II mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016):

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Bích N và anh Võ Văn C là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Võ Minh T, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2012 cho chị Trần Bích N tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Chị Trần Bích N không yêu cầu anh Võ Văn C phải cấp dưỡng nuôi con nênkhông đặt ra giải quyết.

Anh Võ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, chị Trần Bích N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Chị Trần Bích N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013065 ngày 14 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, được chuyển thu án phí.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

177
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2018/HNGĐ-ST ngày 02/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:55/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Lợi - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 02/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về