Bản án 55/2017/HSST ngày 20/07/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 55/2017/HSST NGÀY 20/07/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Hôm nay, ngày 20 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2017/HSST, ngày 26 tháng 6 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Kh, tên gọi khác: Không; sinh năm 1974; tại: Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và cư trú: Số nhà H2/019, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Phạm Văn Q1 (đã chết); con bà Trần Thị V, sinh năm 1944, hiện sinh sống tại ấp Nam Sơn, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; bị cáo là con thứ 08 trong gia đình có 11 anh em; vợ là: Trần Thị Phương H, sinh năm 1979, hiện sinh sống tại ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; bị cáo có hai con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 08/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự, được trừ thời gian tạm giam, còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 03 ngày.

Bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2017 cho đến nay, (Có mặt).

Người bị hại: Anh K’T, sinh năm 1990, (Chết);

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Ka H, sinh năm 1992 - Là vợ anh K’T, (Có mặt);

Nơi cư trú: Thôn P, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;

Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần xe khách P;

Địa chỉ: Đường Ng, phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trọng H, sinh năm 1988; Trú tại: Đường Tr, phường P, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh;

Chức vụ: Trưởng phòng pháp chế (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Phạm Văn Kh bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Phạm Văn Kh là lái xe hợp đồng của Công ty Cổ phần Xe khách P, có giấy phép lái xe hạng E, do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/10/2012. Vào ngày 01/5/2015 bị cáo Kh điều khiển xe ô tô của Công ty P gây tai nạn tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, bị Cơ quan điều tra Công an huyện Đ khởi tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và tạm giữ giấy phép lái xe; đồng thời Công ty P cũng cho bị cáo Khoa nghỉ việc để chờ kết quả giải quyết vụ án.

Vào khoảng tháng 4/2016, Phạm Văn Kh nhờ một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) tại khu vực ngã ba Dầu Dây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai làm giả một giấy phép lái xe hạng E với giá 1.800.000đ, đến ngày 01/5/2016 Kh tiếp tục ký hợp đồng lao động với Công ty P để làm lái xe với thời hạn 01 năm.

Vào lúc 13 giờ ngày 19/01/2017, Công ty P giao cho Kh điều khiển xe ô tô loại 40 gường nằm, biển số 51B-083.XX chở khách từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt, trên xe còn có một nhân viên làm phụ xe tên là Then Sin Tr. Khoảng 18 giờ cùng ngày, xe của Kh chạy đến km 110+150, Quốc lộ 20, thuộc địa phận xã Đ, thành phố B; Kh quan sát thấy phía trước có một chiếc xe ô tô loại 07 chỗ ngồi đang lưu thông cùng chiều nên Kh có ý định cho xe mình vượt lên. Trước khi vượt Kh quan sát phần đường bên trái thấy không có phương tiện nào lưu thông nên Kh bật đèn xi nhan, tăng ga chuyển hướng cho xe chạy sang phần đường bên trái để vượt. Khi xe ô tô của Kh đã qua hẳn phần đường bên trái (chưa vượt được chiếc xe 7 chỗ) thì Kh phát hiện phía trước cách đầu xe khoảng 10m có một xe mô tô chạy ngược chiều; Kh liền đạp thắng và đánh tay lái về bên phải để tránh, nhưng do khoảng cách quá gần mà xe của Kh lại chạy nhanh nên đã tông vào xe mô tô biển số 49M1-9285 do anh K'T, sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng điều khiển, hậu quả làm anh K'T tử vong tại chỗ, xe mô tô 49M1-95XX bị hư hỏng nặng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là km110+150 Quốc lộ 20, xã Đ, thành phố B; mặt đường trải nhựa bê tông rộng 10,9m, ở giữa có vạch sơn kẻ tim đường đứt đoạn màu vàng, chia đường thành 02 phần. Phần đường bên phải theo hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt rộng 5,4m, có vạch sơn màu trắng đứt đoạn chia đường thành 02 làn, làn phía trong rộng 02m.

- Số 01 là điểm đầu vết cày xước trên mặt đường do xe mô tô 49M1-95XX để lại sau tai nạn, kéo dài đến vị trí xe mô tô nằm đổ lại tại hiện trường là 68,6m. Điểm đầu vết cày xước cách mép đường bên phải theo hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt là 08m.

- Số 02 là điểm đầu vết chà người của anh K'T để lại trên mặt đường sau tai nạn, kéo dài đến vị trí anh K'T nằm trên mặt đường là 26,9m. Điểm đầu vết chà người cách mép đường phải theo hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt là 9,10m. Dọc theo dấu vết chà người có tổ chức não rơi vãi, bám dính trên mặt đường.

- Số 03 là điểm đầu vết phanh bánh đôi thứ nhất bên trái của xe ô tô 51B- 083.XX để lại trên mặt đường, kéo dài đến vị trí xe đậu là 45,5m. Điểm đầu vết phanh cách mép đường bên phải theo hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt là 5,65m.

- Số 04 là vị trí anh K'T nằm tại làn đường bên trong, phần đường bên trái, cách mép đường phải theo hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt là 9,75m.

- Số 05 là điểm đầu vết phanh bánh đôi thứ hai bên phải của xe ô tô 51B- 083.XX để lại tại mặt đường, kéo dài đến vị trí xe ô tô đậu là 9,3m. Điểm đầu vết phanh cách mép đường phải hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt là 0,65m.

- Sau tai nạn xe ô tô 51B-083.XX dừng tại phần đường bên phải hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt, đầu xe quay về hướng Đà Lạt, tâm trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt lần lượt là 0,5m và 0,4m. Xe mô tô 49M1-92XX sau tai nạn bị kẹt vào gầm xe ô tô 51B-083.XX, được người dân kéo ra khỏi đầu xe ô tô để tránh việc cháy nổ.

Như vậy, điểm va chạm giữa xe mô tô 49M1-92XX và xe ô tô 51B-083.XX khi xảy ra tai nạn là điểm đầu vị trí số 01, nằm hoàn toàn bên trái đường theo hướng lưu thông của Kh. Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do Kh điều khiển xe ô tô vượt xe cùng chiều không đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 2 điều 14 Luật Giao thông đường bộ.

- Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 10/2017, ngày 10/02/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lâm Đồng thì anh K'T bị chết do suy hô hấp - trụy tim mạch cấp trên tử thi bị đa chấn thương do tai nạn giao thông.

- Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 19B, ngày 21/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc thì chiếc xe mô tô biển số 49M1-92XX của anh K'Tân bị hư hỏng, thiệt hại về tài sản trị giá là 3.000.000đ.

- Theo Kết luận giám định số 613, ngày 03/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng thì tốc độ của xe ô tô biển số 51B-083.XX do Kh điều khiển tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông là 89,95km/h, (trong khi tốc độ tối đa cho phép là 70km/h).

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ sau đó trả lại 01 xe ô tô biển số 51B-083.XX cho Công ty P, trả lại 01 xe mô tô biển số 49M1-92XX cho chị Ka H, (là vợ anh K'T). Hiện đang tạm giữ 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng E, 01 chứng chỉ hành nghề mang tên Phạm Văn Kh.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Công ty P và gia đình bị cáo Kh đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 157.300.000đ. Chị Ka H đã nhận tiền bồi thường, viết đơn xin bãi nại cho bị cáo và không yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS, ngày 23 tháng 6 năm 2017, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Phạm Văn Kh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại diện người bị hại là chị Ka H yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền cấp dưỡng nuôi một người con chung của chị và anh K’T (tên là K’T1, sinh năm 2012), mỗi tháng là 1.000.000đ cho đến khi trưởng thành. Bị cáo không đồng ý bồi thường mà cho rằng, trong quá trình điều tra hai bên đã thỏa thuận và thực hiện xong toàn bộ việc bồi thường. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Kh từ 15 đến 18 tháng tù.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, đại diện người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Bị cáo Phạm Văn Kh làm nghề lái xe, bị cáo biết rất rõ khi điều khiển xe trên đường thì phải đi đúng phần đường, khi tránh vượt xe phải chú ý quan sát và đảm bảo an toàn để tránh xảy ra tai nạn, nhưng bị cáo đã không chấp hành. Vào ngày 19/01/2017, bị cáo điều khiển xe ô tô chở khách từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt, khi đến km110+150 Quốc lộ 20, xã Đ, thành phố Bảo Lộc bị cáo đã cho xe của mình vượt xe cùng chiều mà không chú ý quan sát, xe phía trước không tránh và không ra tín hiệu cho vượt nên đã tông vào xe mô tô do anh K'T điều khiển chạy ngược chiều, hậu quả làm anh K'T tử vong tại chỗ, xe mô tô 49M1-95XX bị hư hỏng nặng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ; vi phạm của bị cáo là nguyên nhân trực tiếp gây nên cái chết cho anh K'T. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án; có đủ căn cứ khẳng định, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Do trước đó bị cáo đã bị Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai khởi tố về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và đang tạm giữ giấy phép lái xe; trong khi vụ án đang giải quyết thì bị cáo lại sử dụng bằng lái xe giả để lái xe và gây tại nạn. Vì vậy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Không có bằng lái xe theo qui định”, nên đã phạm vào điểm a, khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người cùng tham gia giao thông khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Về nhân thân thì tại thời điểm gây tai nạn bị cáo đang bị Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai khởi tố điều tra về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, nhưng bị cáo không thấy đó là bài học mà còn phạm tội. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng thấy rằng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau tai nạn đã cùng với chủ phương tiện tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; đại diện người bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy cần áp dụng các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

Về việc tổng hợp bản án: Xét thấy, ngày 08/3/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 điều 202 Bộ luật hình sự, (bản án số 34/2017/HSST); được trừ thời gian tạm giam nên bị cáo còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 03 ngày. Do bản đã có hiệu lực pháp luật nên bị cáo được trừ thời gian đã chấp hành hình phạt là 05 ngày, (từ ngày 08/3 đến ngày 12/3/2017). Như vậy thời gian còn phải chấp hành án của bị cáo là 01 năm 04 tháng 28 ngày cải tạo không giam giữ; căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự qui đổi thành 05 tháng 21 ngày tù. Vì vậy cần phải tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt còn lại bản án số 34/2017/HSST, ngày 08/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai theo Điều 51 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là phù hợp.

Đối với hành vi mua và sử dụng giấy phép lái xe giả của bị cáo Kh, do sau tai nạn bị cáo đã làm mất Giấy phép lái xe giả nên không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này.

Đối với người đàn ông đã bán giấy phép lái xe giả cho bị cáo Kh tại khu vực ngã ba Dầu Giây, thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, do hiện nay chưa xác minh được nhân thân lai lịch của đối tượng này nên cần tách ra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với các ông: Nguyễn Hoàng Khôi Ng, Nguyễn Văn H là người điều động xe của công ty P, có hành vi giao xe ô tô cho bị cáo Kh điều khiển gây tai nạn. Tuy nhiên, tại thời điểm giao xe các ông không biết bị cáo Kh sử dụng giấy phép lái xe giả nên không truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra gia đình bị cáo Kh cùng với Công ty P đã thỏa thuận với gia đình người bị hại là chị Ka H về việc bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 157.300.000đ; chị Ka H đã nhận tiền bồi thường, viết giấy bãi nại và cam kết không thắc mắc, yêu cầu gì. Nay chị Ka H lại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền cấp dưỡng nuôi con là không có cơ sở chấp nhận.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Kh 01 giấy phép lái xe hạng E (số AX 610XXX) do Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai trả lại cho bị cáo, 01 chứng minh nhân dân, 01 chứng chỉ nghề đều mang tên Phạm Văn Kh, xét thấy đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Kh phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, các điều 50, 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Kh 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án số 34/2017/HSST, ngày 08/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 23 (Hai mươi ba) tháng 21 (Hai mươi mốt)ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2017.

Trả lại cho bị cáo Kh: 01 giấy phép lái xe hạng E (số AX 610437), 01 chứng minh nhân dân số: 271748804, 01 chứng chỉ nghề, tất cả đều mang tên Phạm Văn Kh.

Buộc bị cáo Kh phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2017/HSST ngày 20/07/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:55/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về