Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 28/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 335/2019/TLST-HNGĐ ngày 06/9/2019 vê viêc “tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/201 , giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1991.

Đa chỉ: Số nhà H, đường Q, tổ B, khóm B, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Bùi Tuấn K, sinh năm 1982.

Đa chỉ: Số nhà M, ấp M, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị Nguyễn Thị N có mặt, anh Bùi Tuấn K vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Bùi Tuấn K kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 19/3/2015. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng không bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh K không quan tâm gia đình và phụ tiếp chị N trong việc nuôi dạy con. Chị N đã nhiều lần khuyên và động viên nhưng anh K không sửa đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị N trở về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 4/2016 và vợ chồng không sống chung từ đó đến nay. Thời gian xa nhau, anh K có tìm chị để hàn gắn nhưng chị N không đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với anh Bùi Tuấn K.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Ngọc Bích H, sinh ngày 07/01/2015, con chung đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đi với anh Bùi Tuấn K, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Bùi Tuấn K nhưng anh Bùi Tuấn K không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con. Bị đơn anh Bùi Tuấn K có địa chỉ tại xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tông đat hơp lê các văn bản tố tụng cho anh Bùi Tuấn K nhưng anh Bùi Tuấn K không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và anh Bùi Tuấn K cũng không có mặt tại phiên toa hôm nay nên Hôi đông xet xư tiến hành xet xư văng măt anh Nguyễn Bùi Tuấn K theo quy đinh tai điêm b khoan 2 Điêu 227 và khoản 3 Điêu 228 của Bô luât tố tụng dân sư.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị N và anh Bùi Tuấn K được xác lập vào năm 2014, do hai anh chị tự nguyện và thừa nhận, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C ngày 19/3/2015 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Tại phiên tòa hôm nay, chị N cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh K, anh K không có mặt, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến vụ án và không trình bày ý kiến của anh về quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị N và anh K có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và sống xa nhau đã hơn 03 năm nhưng không hàn gắn tình cảm, mỗi người có cuộc sống riêng, vợ chồng không còn tình cảm thương yêu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chị N được ly hôn với anh K.

[3] Xét con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Bùi Tuấn K có 01 con chung tên Bùi Ngọc Bích H, sinh ngày 07/01/2015, hiện con chung đang sống với chị N. Tại phiên tòa, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu là được tiếp tục nuôi con chung; anh K không có văn bản ghi ý kiến, không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh K cũng không có mặt để trình bày ý kiến về con chung. Hội đồng xét xử xét thấy bé Bích Hà từ khi sinh ra đến nay đã sống chung với chị N, có cuộc sống ổn định. Ngoài ra, Bùi Ngọc Bích H là bé gái, sống với mẹ sẽ phù hợp tâm, sinh lý và bé cũng còn nhỏ, cần được sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N được tiếp tục nuôi con chung tên Bùi Ngọc Bích H, sinh ngày 07/01/2015 là phù hợp với khoản 3 Điều 81 và Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Xét cấp dưỡng nuôi con, tài san chung và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay, chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung; anh K vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Bùi Tuấn K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điêm b khoan 2 Điêu 227 và khoản 3 Điêu 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Bùi Tuấn K.

Con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị N được tiếp tục nuôi con chung tên Bùi Ngọc Bích H, sinh ngày 07/01/2015, hiện con chung đang sống với chị N.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung : Hôi đông xet xư không xem xét.

Án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005138 ngày 30/8/2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, như vậy chị Nguyễn Thị N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Bùi Tuấn K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Tuấn K có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yêt hoặc nhận đươc bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

237
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 28/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về