Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 14/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm: 1991

Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Trần Khắc L, sinh năm 1990

Nơi ĐKHKTT: thôn V, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Nơi làm việc: Công ty cổ phần dịch vụ giặt ủi công nghiệp K.

Đa chỉ: Tổ X, ấp G, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

(Chị H có mặt, anh L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Khắc L tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 08/12/2014. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại gia đình nhà anh L ở thôn V, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 01 tháng thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, xích mích với nhau, anh L không quan tâm đến chị và luôn kiếm cớ để chửi mắng, xúc phạm chị. Gia đình đã góp ý, khuyên bảo, hòa giải cho anh chị nhưng không có kết quả. Đến tháng 01/2015, do cảm thấy cuộc sống vợ chồng quá ngột ngạt, mâu thuẫn của vợ chồng trở nên căng thẳng nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình sống; từ đó đến nay vợ chồng chị sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai, chấm dứt mọi quan hệ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân của anh chị không có khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L. Về con chung: Chị và anh L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh L không có tài sản chung, không có nợ chung và không cho ai vay chung tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại văn bản trình bày ý kiến và đơn lựa chọn Tòa án giải quyết việc ly hôn và xin giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 21/10/2019, bị đơn anh Trần Khắc L trình bày:

Về thời gian, điều kiện kết hôn như chị H trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng anh nảy sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, vợ chồng anh đã sống ly thân với nhau nhiều năm nay. Nay chị H có đơn xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có khả năng đoàn tụ. Về con chung: Anh và chị H không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh đã được bố mẹ đẻ anh thông báo về việc Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư đã thụ lý giải quyết việc chị H xin ly hôn anh. Anh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, tuy nhiên anh đã đi khỏi tỉnh Thái Bình gần 10 năm nay. Hiện nay anh đã đăng ký tạm trú và đang sinh sống tại tổ X, ấp G, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh thì anh đồng ý lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình là nơi giải quyết việc ly hôn của anh và chị H. Hiện nay do anh đang sinh sống và làm việc tại tỉnh Kiên Giang nên anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chấp nhận yêu cầu của chị H: Xử cho chị H được ly hôn anh L. Về quan hệ con chung và về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết. Án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn, do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn cư trú tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; bị đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình là nơi giải quyết ly hôn nên Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có đơn xin được giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng thời gian rất ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, xích mích với nhau. Từ năm 2015 vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ từ đó. Gia đình đã góp ý, khuyên bảo, hòa giải cho anh chị nhưng không có kết quả. Xét thấy hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nếu có tiếp tục chung sống cũng không thể có hạnh phúc, vì vậy cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh L.

[3.2] Về quan hệ con chung: Chị H và anh L không có con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[3.3] Về quan hệ tài sản: Chị H và anh L không có tài sản chung, không có nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 147, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Điều 6, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Trần Khắc L.

[2]. Về quan hệ con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Trần Khắc L không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

[3]. Về quan hệ tài sản: Chị Hoàng Thị H và anh Trần Khắc L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003593 ngày 26 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 14/11/2019. Anh Trần Khắc L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

215
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 14/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vũ Thư - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 14/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về