Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 05/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/12/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 05/12/2019, tại Hội trường, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2019/TLS-HNGĐ ngày 26/9/2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/11/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19/11/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Quang S, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

2. Bị đơn: Chị Võ Thị K, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 10/9/2019, được bổ sung tại bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn anh Lê Quang S trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Võ Thị K kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 17/12/2013 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung với bố mẹ anh S tại thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được gần 03 năm thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do không hợp tính tình, chị K nhiều lần đi làm ăn xa nhưng không nói với anh S, hiện tại chị K về sinh sống ở bên ngoại, vợ chồng sống ly thân mặc dù anh đã vận động chị K trở lại đoàn tụ vợ chồng để cùng làm ăn và nuôi dạy con cái. Anh S xác định mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Võ Thị K.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, cháu đầu Lê Quang Â, sinh ngày 13/12/2014; cháu thứ hai Lê Quang Đ, sinh ngày 15/9/2016 hiện đang sống cùng anh S. Nguyện vọng của anh S xin được trực tiếp 02 nuôi con và yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con Lê Quang Đ mỗi tháng một triệu đồng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh S khai không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với bị đơn Võ Thị K: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên toà đến các đương sự hợp lệ nhưng chị Võ Thị K đều vắng mặt, do đó vụ án không tiến hành hoà giải được và Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa lần thứ nhất ngày 19/11/2019.

Theo xác nhận của Ban Công an xã N, huyện L: Chị Võ Thị K, sinh ngày 10/10/1993 hiện đang cư trú, làm ăn và sinh sống tại xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ nhưng bị đơn chị Võ Thị K đều vắng mặt, do đó vụ án không tiến hành hoà giải được; Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên toà đến chị Khuyên hợp lệ nhưng chị K vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất ngày 19/11/2019 và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên toà. Tại phiên toà lần thứ hai, bị đơn chị Võ Thị K vẫn vắng mặt mặc dù Toà án đã tống đạt quyết định hoãn phiên toà hợp lệ. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Võ Thị K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Quang S và chị Võ Thị K kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có khoảng thời gian chung sống hạnh phúc bên nhau. Lẽ ra anh, chị phải biết thương yêu, quý trọng chăm sóc lẫn nhau nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, hai bên thiếu sự thông cảm, chia sẽ với nhau trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng sứt mẻ tình cảm, sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Toà án đã triệu tập, tống đạt thông báo đến chị K hợp lệ nhưng chị K vẫn không đến Toà án giải quyết chứng tỏ chị không còn quan tâm đến đời sống chung của vợ chồng, không muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình mặc dù chị K đang cư trú ở địa phương. Xét mục đích hôn nhân của anh S không đạt được, tình cảm vợ chồng của anh Sáu đối với chị K không còn, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cho anh Lê Quang S được ly hôn chị Võ Thị K là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Anh S và chị K có 02 con chung Lê Quang Â, sinh ngày 13/12/2014; Lê Quang Đ, sinh ngày 15/9/2016 hiện đang sống cùng anh S. Nguyện vọng của S xin được trực tiếp nuôi con và chị K vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử nhất trí giao cháu Lê Quang Â, Lê Quang Đ cho anh S nuôi dưỡng và buộc chị Võ Thị K cấp dưỡng nuôi con Lê Quang Đ mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 01 năm 2020 cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh S khai không có nợ chung, không có tài sản chung, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Quang S được ly hôn chị Võ Thị K.

2/ Về quan hệ con cái: Giao cho anh Lê Quang Sáu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lê Quang Â, sinh ngày 13/12/2014 và Lê Quang Đ, sinh ngày 15/9/2016; chị Võ Thị K cấp dưỡng nuôi con Lê Quang Đ cùng anh Sáu mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 01 năm 2020 cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Án phí ly hôn: Buộc anh Lê Quang S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0005861 ngày 25 tháng 9 năm 2019. Anh Sáu đã nộp đủ án phí.

- Án phí cấp dưỡng: Buộc chị Võ Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

4/ Về quyền kháng cáo: Anh Lê Quang S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/12/2019); chị Võ Thị K vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở Uỷ ban nhân dân nơi cư trú để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

259
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 05/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lệ Thủy - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về