Bản án 54/2018/DS-ST ngày 08/10/2018 về kiện đòi tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 54/2018/DS-ST NGÀY 08/10/2018 VỀ KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 10 năm 2018, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2018/TLST- DS ngày 07 tháng 6 năm 2018 về việc “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68A/2018/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2018/QĐST-DS ngày 21/9/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH TM & DV Hưng Ph Ninh Thuận (gọi tắt là Công ty Hưng Ph).

Địa chỉ trụ sở: số 54X , đường Th, phường Đ, Tp. Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Thế H – Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1959.

Nơi cư trú: khu phố X, phường Đ, Tp. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

(Giấy ủy quyền ngày 13/6/2018, ông L có mặt).

Bị đơn: ông Ngô Thanh H, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Nơi cư trú: khu phố X, phường Đ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31-5-2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Đình L trình bày:

Ông Ngô Thanh H ký hợp đồng lao động vào làm việc tại Công ty Hưng Ph từ năm 2010 đến nay đã nhiều lần nghĩ việc rồi vào làm lại, vào tháng 01/2017 ông H tiếp tục ký hợp đồng lao với công ty vào làm việc lái xe tải. Ngày 16/6/2017, Công ty phân công ông H điều khiển xe tải BKS 85C- 02101 chở 13 tấn muối hạt từ huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận vào giao cho khách hàng ở tỉnh Bình Dương và nhận số tiền hàng là 17.200.000đ. Khi quay xe về lại công ty ông H không nộp lại tiền hàng trên cho Công ty mà mang về nhà đến hôm sau ông H đến báo là đã bị mất số tiền trên. Ngoài số tiền hàng trên ông H còn mượn trước đó của Công ty số tiền 2.000.000đ để chi tiêu cá nhận, cộng số tiền quyết toán trong chuyến đi, ông H còn nợ Công ty là 22.402.000đ. Công ty đã mời ông H đến làm việc 03 lần đề nghị trả lại số tiền đã chiếm dụng nói trên nhưng ông H hứa hẹn mà không trả. Sau đó Công ty đã tố cáo ông H đến Cơ quan điều tra Công an Tp. Phan Rang – Cháp Chàm về hành vi chiếm dụng số tiền trên. Công an Tp. Phan Rang – Cháp Chàm đã báo ông H đến làm việc, tại buổi làm việc ông H đã thừa nhận việc chiếm dụng số tiền 22.402.000đ của Công ty Hưng Ph, ông H cam kết sẽ trả dần số tiền trên hàng tháng 3.000.000đ cho Công ty Hưng Ph. Vào tháng 8, tháng 10 năm 2017 ông H có đến trả cho Công ty 02 lần, mỗi lần 03 triệu đồng, số nợ ông H đã trả được là 6.000.000đ, số nợ còn lại 16.402.000đ và từ tháng 11/2017 đến nay ông H không tiếp tục trả khoản nợ này. Công ty Hưng Ph khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H phải trả số tiền còn lại là 16.402.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Ngô Thanh H đã được Tòa án niêm yết triệu tập hợp lệ đến Tòa án để ghi lời khai vào ngày 30/6/2018, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 26/7/2018 và ngày 13/8/2018. Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 30/8/2018 nhưng ông H vẫn không có mặt tại Tòa án, do đó Tòa án không ghi lời khai và không tiến hành phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Phan Rang – Tháp Chàm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký luôn tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và người tham gia tố tụng dân sự là nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt nhưng Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Công ty Hưng Ph khởi kiện ông Ngô Thanh H về kiện đòi tài sản. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân Tp. Phan Rang – Tháp Chàm, ông H có hộ khẩu thường trú tại khu phố X, phường Đ, Tp. Phan Rang – Tháp Chàm. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Tp. Phan Rang – Tháp Chàm theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Về sự vắng mặt của bị đơn ông Ngô Thanh H: Ngày 07/6/2018, Tòa án ban hành Thông báo về việc thụ lý vụ án và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là ông Ngô Thanh H. Thông báo có ghi rõ yêu cầu của nguyên đơn (yêu cầu ông H phải trả cho Công ty Hưng Ph số tiền còn nợ là 16.402.000đ) và chứng cứ kèm theo là Thông báo số 33/TBĐT ngày 25/7/2017 về kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và Biên bản làm việc tại Công an Tp. Phan Rang – Tháp Chàm ngày 21/7/2018. Tuy nhiên, trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại điều 199 của BLTTDS, bị đơn là ông H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không phản đối chứng cứ do nguyên đơn cung cấp (khoản 2 điều 92 của BLTTDS). Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

[2] Về nội dung: Căn cứ Biên bản làm việc ngày 21/7/2017 (BL 35) tại Công an Tp. Phan Rang – Tháp Chàm thể hiện ông Ngô Thanh H đã thừa nhận còn nợ của Công ty Hưng Ph số tiền 22.402.000đ. Đồng thời, ngày 25/7/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Tp. Phan Rang-Tháp Chàm ban hành Thông báo số 33/TBĐT ngày 25/7/2017 (BL 34) về kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được xác định nội dung tố giác của ông Lưu Thế H công ty Hưng Ph tố giác ông Ngô Thanh H chiếm dụng số tiền 22.402.000đ của Công ty Hưng Ph là Hợp đồng dân sự, không có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Nếu các bên còn có tranh chấp đề nghị đến Tòa án nhân dân để giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi thừa nhận khoản nợ này, ông H đã trả cho Công ty Hưng Ph 02 lần với số tiền là 6.000.000đ (BL 33). Như vậy, có căn cứ xác định ông Ngô Thanh H còn nợ Công ty Hưng Ph số tiền là 16.4020.000đ là có thật nên yêu cầu khởi kiện của Công ty Hưng Ph đối với ông Ngô Thanh H, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này là có cơ sở nên chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 BLTTDS, khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 166, 275 và 280 Bộ luật dân sự năm 2015khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH TM & DV Hưng Ph Ninh Thuận đối với bị đơn là ông Ngô Thanh H.

Buộc ông Ngô Thanh H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH TM & DV Hưng Ph Ninh Thuận số tiền là 16.402.000đ (mười sáu triệu bốn trăm lẻ hai ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Về án phí:

Ông Ngô Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là: 820.000đ (tám trăm hai mươi ngàn đồng, làm tròn số).

Công ty TNHH TM & DV Hưng Ph Ninh Thuận không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền 410.000đ (bốn trăm mười ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0016932 ngày 07/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Phan Rang – Tháp Chàm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.


108
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2018/DS-ST ngày 08/10/2018 về kiện đòi tài sản

Số hiệu:54/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về