Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 30/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A  xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2018/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993, cư trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn B, sinh năm 1989, cư trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tại các bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Trần Văn B kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng vào năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh B tại thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình chung sống vợ chồng chỉ hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hiểu nhau nên thường xảy ra va chạm cãi vã, tình cảm rạn nứt. Mặc dù đã được gia đình hai bên giúp đỡ hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị đã bỏ về sống ở nhà mẹ đẻ ở thôn Đ, vợ chồng sống ly thân, không còn sự quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Trần Văn B không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn  với anh Trần Văn B để giải phóng hai bên khỏi sự ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Chị và anh Trần Văn B có 02 con chung là: Trần Thị Anh T, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2011 và Trần Đức Gia H, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2013. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh B nuôi dưỡng, chị và anh B tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Trần Văn B: Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh B để anh B đến Toà án nhân dân huyện A giải quyết việc chị Nguyễn Thị T xin ly hôn nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do nên không có quan điểm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tại phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Trần Văn B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không trình bày quan điểm, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa không có lý do đã vi phạm Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 39 Bộ luật Dân sự, các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Văn B. Giao các con chung Trần Thị Anh T, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2011 và Trần Đức Gia H, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2013 cho anh B nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi dưỡng con chung tính từ ngày b ản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung do các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Văn B đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng nhưng anh B vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn anh Trần Văn B.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn B kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng vào năm 2011. Trong quá trình chung sống của vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, tình cảm rạn nứt, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn sự quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn B đã căng thẳng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Nguyễn Thị T xin ly hôn với anh Trần Văn B là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn B có 02 con chung là Trần Thị Anh T, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2011 và Trần Đức Gia H, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2013. Hiện tại con chung do anh B nuôi dưỡng. Chị T có quan điểm đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh B nuôi dưỡng, chị và anh B tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Văn B không có lời khai, vắng mặt tại phiên tòa nên không có quan điểm của anh B về con chung. Xét thấy, con chung ở với anh Trần Văn B đã ổn định và phát triển tốt, nên để đảm bảo sự ổn định cần giao con chung cho anh B nuôi dưỡng là hợp lý và phù hợp với nguyện vọng của con chung.

Về việc cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu Tòa án giải quyết và do anh B không có quan điểm nên Tòa án không xem xét giải quyết. Khi nào anh B có yêu cầu về việc nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Văn B không có lời khai, vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, không có quan điểm của về tài sản chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản. Khi nào các đương sự có yêu cầu, Toà án sẽ giải quyết việc chia tài sản bằng vụ án dân sự khác.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự.

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Trần Văn B.

2. Xử: Giao con chung Trần Thị Anh T, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2011 và Trần Đức Gia H, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2013 cho anh Trần Văn B nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi dưỡng mỗi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước, chị T đã nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện A (Biên lai thu tiền số 0015135 ngày 23 tháng 5 năm 2018) nên không phải nộp nữa.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


86
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 30/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Dương - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về