Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 10/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 10 tháng 11 năm 2018,tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số  200/2018/TL- HNGĐ ngày 19/9/2018 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXX-ST ngày 28/9/2018, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H - sinh n¨m 1992

Địa chỉ: Khu 14 xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ  9có mặt).

2.Bị đơn: Chị Nguyễn Thanh T- sinh n¨m 1992 (vắng mặt)

Nơi cư trú cuối cùng: khu 14 xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ (đã tuyên bố mất tích từ ngày 01/7/2015)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn và lời khai của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thanh T kết hôn ngày 18/8/2013 tự nguyện có đăng ký tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với bố mẹ đẻ anh và làm ruộng. Qúa trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế gia đình khó khăn nên bất đồng với nhau về quan điểm sống, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Tháng 02/2015 chị T nói với anh là đi làm ăn, mấy ngày đầu chị T còn liên lạc với anh, nhưng sau đó chị T cắt liên lạc với anh và gia đình, anh và gia đình đã đi tìm kiếm chị T ở nhiều nơi nhưng không có kết quả, anh có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố chị T mất tích, tòa án đã thông báo tìm kiếm chị T trên báo và đài phát thanh của trung ương theo quy định của pháp luật, nhưng cũng không có tin tức gì của chị T và đã tuyên bố chị T mất tích từ ngày 01/7/2015. Nay anh đề nghị tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T theo quy định của pháp luật

Về con chung, về tài sản chung: Anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên,Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thanh T kÕt h«n ngµy 18/8/2013 tự nguyện có đăng ký tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, đó là cuộc hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với bố mẹ đẻ anh H và làm ruộng. Qúa trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng với nhau về quan điểm sống, nên mâu thuẫn thường xuyên xảy ra, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Tháng 02/2015 chị T nói với anh là đi làm ăn, thời gian đầu chị T còn liên lạc với anh, nhưng sau đó chị T cắt liên lạc với anh và gia đình, anh và gia đình đã đi tìm kiếm chị T ở nhiều nơi nhưng không có kết quả, anh có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố chị T mất tích, Tòa án đã thông báo tìm kiếm chị T trên báo và đài phát thanh của trung ương theo quy định của pháp luật, nhưng cũng không có tin tức gì của chị T và đã tuyên bố chị T mất tích từ ngày 01/7/2015. Nay anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T. Xét yêu cầu của anh H là có căn cứ chấp nhận, nên cần giải quyết cho anh H được ly hôn chị T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung, tài sản chung: Anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Do đó HĐXX không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 điều 56 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thanh T.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền ngày 19/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh H có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 10/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Khê - Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về