Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 06/08/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 06/08/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 06 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 101/2018/TLST- HNGĐ ngày 06/3/2018 về việc “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2018/QĐXX - ST ngày 19/7/2018. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lâm Thúy N - Sinh: 1984

ĐKHKTT: Tổ 6, khu 4, phường Hà Tu, thành phố H, tỉnh Q Ninh;

Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đồng Q - Sinh: 1980

ĐKHKTT: Tổ 6, khu 4, phường Hà Tu, thành phố H, tỉnh Q Ninh;

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 23/02/2018, bản tự khai ngày 27/3/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lâm Thúy N trình bày: giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Nguyễn Đồng Q chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 02/5/2003, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Điểm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, đăng ký kết hôn tự nguyện. Trước khi đăng ký kết hôn anh Q và Tôi (N) chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, không ai quan tâm đến ai. Nay Tôi (N) xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho Tôi được ly hôn anh Nguyễn Đồng Q.

- Về con: Vợ chồng sinh được 02 con chung là Nguyễn Đồng V - sinh: 04/8/2003 và Nguyễn Khánh L - sinh: 23/12/2007. Tôi (N) đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến khi đủ 18 tuổi. Tôi (N) yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con cho mỗi con là 1.000.000đ/tháng.

- Về tài sản và nợ: Tôi (N) xác nhận không có tài sản chung và không có khoản nợ chung nào của Nhà nước cũng như tư nhân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Nguyễn Đồng Q có bản tự khai ngày 27/3/2018 và tại phiên tòa anh xác nhận về thời gian điều kiện đăng ký kết hôn như chị N trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô xát. Vợ chồng không ai quan tâm đến ai và đã ly thân được gần 02 năm. Nay chị N khởi kiện xin ly hôn, Tôi (Q) đồng ý ly hôn với chị N.

- Về con: Vợ chồng sinh được 02 con chung là Nguyễn Đồng V - sinh: 04/8/2003 và Nguyễn Khánh L - sinh: 23/12/2007. Nếu ly hôn, Tôi (Q) đề nghị chị N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, về cấp dưỡng nuôi con anh đồng ý cấp dưỡng cho mỗi con là 1.000.000đ/tháng.

- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung và không có khoản nợ chung nào của Nhà nước cũng như tư nhân. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, quan điểm trình bày của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hôn nhân giữa chị Lâm Thúy N và anh Nguyễn Đồng Q trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được pháp luật bảo vệ. Chị N, anh Q xác nhận cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không ai quan tâm đến ai.

Quá trình Tòa án Thông báo về phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Đồng Q vắng mặt không lý do, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Từ những phân tích trên, thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lâm Thúy N là cần thiết.

[2] Về con: Chị N có nguyện vọng được nuôi 02 con. Xét nguyện vọng của chị N phù hợp với quan điểm của anh Q và nguyện vọng của con chung. Nên chấp nhận yêu cầu được nuôi 02 con của chị N.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con cho mỗi con là 1.000.000 đ/tháng. Thấy yêu cầu của chị N là đúng pháp luật, nên anh Q phải thực hiện nghĩa vụ của người cha không trực tiếp nuôi con.

[4] Về tài sản và nợ: Chị Lâm Thúy N và anh Nguyễn Đồng Q xác nhận không có tài sản chung, vợ chồng không có khoản nợ nào chung của Nhà nước cũng như tư nhân. Nên không đề cập.

[5] Về án phí: Chị N chịu án phí ly hôn, anh Q chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, Điều 28; khoản 4, Điều 147; điểm d, khoản 3, Điều 203; khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lâm Thúy N

Chị Lâm Thúy N được ly hôn anh Nguyễn Đồng Q.

2. Về con:

- Giao con chung Nguyễn Đồng Vương - sinh: 04/8/2003 và Nguyễn Khánh L - sinh: 23/12/2007 cho chị Lâm Thúy N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

- Anh Nguyễn Đồng Q có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con số tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng)/tháng, kể từ tháng 9/2018 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.

- Anh Nguyễn Đồng Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ: Không đề cập.

4. Về án phí: Chị Lâm Thúy N chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (chị N đã nộp tạm ứng án phí ly hôn tại biên lai số: 0002473 ngày 05/3/2018, tại chi cục thi hành án dân sự thành phố H, nay chuyn thành án phí ly hôn chính thức); anh Nguyễn Đồng Q chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

Án xử công khai, có mặt chị N, anh Q. Báo quyền kháng cáo cho các đương sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 06/08/2018 về ly hôn

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về