Bản án 53/2017/HSST ngày 29/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 53/2017/HSST NGÀY 29/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29/12/2017, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2017/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo có lý lịch sau:

Họ và tên: Nịnh Văn H. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 10/07/1970 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ĐKNKTT: Xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Chỗ ở hiện nay: Xóm ĐĐ, xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: San chí; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 05/12.

Họ và tên bố: Nịnh Văn K - Sinh năm: 1940; Họ và tên mẹ: Dương Thị T -

Sinh năm: 1943; Cùng làm ruộng tại xã BT, huyện Đ.

Anh, chị, em ruột: Gia đình có tám chị em, bị cáo là con thứ hai.

Họ và tên vợ: Lộc Thị C. Sinh năm: 1971. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1991 nhỏ sinh năm 1993.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2017, hiện đang bị tạm giam tại

Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).

* Người làm chứng:

Anh Ma Khắc T - Sinh ngày 17/11/1973; Trú quán: LL, xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nịnh Văn H bị VKSND huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau :

Hồi 10 giờ 45 phút ngày 26/9/2017, tổ công tác của Công an huyện Định Hóa, phối hợp với Công an xã BT, huyện Đ, làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực thuộc xóm ĐĐ, xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, đã phát hiện tại nhà ở của Nịnh Văn H (Sinh năm: 1970), có các đối tượng Nịnh Văn Hg và Ma Khắc T (Sinh năm: 1977, trú tại: LL, xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra, qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ tại túi quần bên trái, phía trước H đang mặc trên người 01 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng (H khai là ma túy loại Hêrôin), tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về công an huyện Định Hóa để điều tra làm rõ. (BL: 25, 37- 38)

Kết quả cân xác định trọng lượng hồi 18 giờ ngày 26/9/2017, tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của H có trọng lượng 0,15gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên niêm phong trong bì ký hiệu A2 gửi giám định. (BL: 24)

Tại bản kết luận giám định số: 1033 ngày 28/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ được của Nịnh Văn H, niêm phong trong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy loại Hêrôin, có trọng lượng (khối lượng) là 0,15 gam. Hoàn lại 0,109 gam mẫu sau giám định. (BL: 20- 22)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hóa, Nịnh Văn Hg khai nhận: Do bản thân là người nghiện ma túy nên buổi chiều ngày 25/9/2017, H đi nhờ xe mô tô của một người không quen xuống ngã ba xã PT, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy sử dụng cho bản thân, tại đây H đã gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi (H không quen biết), 01 gói ma túy loại Hêrôin với giá 150.000đ. Sau khi mua được ma túy, H đi về nhà và đã lấy một ít ra để sử dụng, số còn lại H cất giấu vào túi quần của mình. Đến khoảng 11 giờ ngày 26/9/2017, khi H đang ở nhà chơi với bạn là Ma Khắc T thì bị tổ công tác Công an huyện Định Hóa kiểm tra phát hiện và thu giữ toàn bộ số ma túy H chưa kịp sử dụng hết như đã nêu trên. (BL: 45- 53).

Quá trình điều tra bị cáo Nịnh Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của bị can là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; Bản kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng Ma Khắc T.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,109 gam ma túy loại Hêrôin, được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hóa chờ xử lý. (BL: 26- 28).

Tại cáo trạng số 55 ngày 15/11/2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nịnh Văn H ra trước Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để xét xử về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản cáo trạng của VKS đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, theo quy định của pháp luật hiện hành về việc áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo được quy định tại Bộ luật hình sự năm số 100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14,  Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Nịnh Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;  Khoản 3  Điều  7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; Điểm b, khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS số 100/2015/QH13. Xử phạt bị cáo Nịnh Văn H từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/9/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 76 BLTTHS, Điều 41 BLHS:

+ Tịch thu tiêu hủy 0,109 (Không phẩy một không chín) gam hêrôin thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định.

- Về án phí: Bị cáo Nịnh Văn H phải chịu toàn bộ án phí HSST sung Ngân sách Nhà nước.

Phần tranh luận tại phiên toà: Bị cáo không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo H nói lời sau cùng, xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nịnh Văn H khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 25/9/2017, Hùng đi đến xã PT, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên mua của một người không quen biết 01 gói hêrôin với giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), mục đích để sử dụng dần cho bản thân, số ma túy mua được Hùng đã sử dụng một phần, phần còn lại H gói vào giấy bạc, cất vào túi quần bên trái để sử dụng dần. Đến sáng ngày 26/9/2017, khi H đang ở nhà cùng với Ma Khắc T thì bị Công an xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Công an huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần bên trái H đang mặc 01 gói bằng giấy bạc màu trắng, trong có chứa chất bột màu trắng, Hùng khai đó là hêrôin.

Tại bản kết luận giám định số 1033/KL-PC54 ngày 28/9/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột thu giữ của Nịnh Văn H là chất ma túy, loại hêrôin, có trọng lượng (khối lượng) : 0,15 gam.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất, phù hợp với bản tường trình và các lời khai tại cơ quan điều tra; Phù hợp với lời khai của người làm chứng Ma Khắc T; Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định...và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nịnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Điều 194 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào … Tàng trữ … trái phép chất ma túy … thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm...”

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái

Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Song cũng xét thấy, tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 quy định “Điều luật ... quy định một hình phạt nhẹ hơn ... và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.

Theo đó, HĐXX xét thấy cần căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; Điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Điểm c khoản 1Điều 249 của BLHS số 100/2015/QH13, khoản 66 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Tại khoản 66 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 249 BLHS số 100/2015/QH13 quy định :

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...c. Hêrôine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, hành vi đó của bị cáo không chỉ gây mất trật tự trị an ở địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân làm cho một số loại tội phạm khác gia tăng. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng để phục vụ nhu cầu bản năng của mình nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý.

Xét nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo H là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân chưa có tiền án, tiền sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS; Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 của BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 48 của BLHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi đánh giá toàn diện về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H là đối tượng nghiện chất ma túy, qua xác minh và tại phiên tòa, xét thấy bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

+ Đối với 0,109 (không phẩy một không chín) gam hêrôin thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với lời khai của bị cáo H, khai mua ma túy của một người không quen biết ở khu vực xã PT, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan Điều tra không có đủ cơ sở để xác minh xử lý. Khi nào xác định được đối tượng sẽ xử lý sau.

Đối với anh Ma Khắc Tình, có mặt tại nhà bị cáo Nịnh Văn Hùng khi Công an bắt quả tang Nịnh Văn H, quá trình điều tra xác định Ma Khắc T không có hành vi phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hóa không xử lý đối với Ma Khắc T, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của KSV tại phiên tòa về việc áp dụng hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ để HĐXX xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nịnh Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm  p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; Điểm b, khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS số 100/2015/QH13, khoản 66 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13; Xử phạt bị cáo Nịnh Văn H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/9/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 194 BLHS đối với bị cáo.

- Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2017).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 0,109 gam hêrôin thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2.

Tình trạng vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 17/11/2017 giữa Công an huyện Định Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hóa.

3. Về án phí và quyền kháng cáo:  Áp dụng Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nịnh Văn H phải chịu 200.000đ  án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


79
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về