Bản án 53/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 53/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 51/2017/HSST ngày 08/9/2017 đối với bị cáo:

Trịnh Văn Q, tên gọi khác: không

Sinh ngày: 10/11/1972, tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Trú tại: Bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hóa: 7/12

Con ông: Trịnh Văn D và bà Lê Thị D (Đều đã chết);

Vợ: Kha Thị P, sinh năm 1973, con: có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1995,

con nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/8/2017 đến ngày 09/8/2017 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Trịnh Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 02/8/2017, Trịnh Văn Q đang ở nhà thì có Kha Văn Đ đi đến nhà Q. Khi gặp Q, Đ nói: “Bán cho năm chục” (Ý Đ nói bán cho năm mươi nghìn Hêrôin) và đưa cho Q 01 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng. Q cầm lấy tiền và phụ lại cho Đ số tiền 50.000 đồng. Cất tiền xong, Q lấy trong người ra 01 gói Hêrôin có đặc điểm bên ngoài được gói bằng mảnh bao Potylen màu trắng đưa cho Đ. Đ cầm lấy gói Hêrôin và mở ra sử dụng bằng hình thức chích tại nhà Q. Sử dụng xong, Đ ở lại chơi trong nhà Q. Đến khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, khi Q và Đ đang ngồi chơi thì có Kha Văn T đến. Khi gặp Q, T nói: “Còn hàng không” (Ý T hỏi còn Hêrôin không?). Q trả lời: “Còn lấy mấy”. T nói: “Bán cho 100.000 đồng”. Nói xong, T đưa cho Q 01 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng. Q cầm tiền và đưa cho T 01 gói heroin có đăc điểm bên ngoài được xé ra từ vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu con Cò. Mua Hêrôin xong, T ra về. Đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày Q và Đ đang ngồi chơi thì thấy Lương Văn T đến. Sau khi vào nhà Q T lấy ghế ngồi gần Q và nói: “Bán cho chín chục” (Ý T nói Q bán cho 90.000 đồng tiền Hêrôin). Vừa nói, T vưa đưa cho Q số tiền 90.000 đồng (gồm 01 tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền có mệnh giá 20.000 đồng) và 01 mảnh giấy được xé ra từ vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu con Cò. Q cầm tiền và dùng tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng xúc một ít Hêrôin từ gói Hêrôin đang để trên giường cho vào mảnh giấy rồi đưa cho T. Lúc này Đ đứng bên cạnh và chứng kiến toàn bộ sự việc. Mua ma túy xong, T ra về. Còn Đ tiếp tục ngồi chơi tại nhà Q. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Đ nói với Q: “Bán thêm cho năm chục nữa” (Ý Đ hỏi mua thêm 50.000 đồng Hêrôin) và đưa cho Q 01 tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng, Q cầm lấy tiền và đưa cho Đ 01 gói Hêrôin bên ngoài được gói bằng mảnh giấy được xé ra từ vỏ bao thuốc lá con Cò. Mua Hêrôin xong, Đ đi về nhà. Đến khoảng 9 giờ 45 phút cùng ngày khi T đi về đến cầu Nà Cọ, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng Công an huyện C phát hiện và bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của T một gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy được xé ra từ vỏ bao thuốc lá con cò Lực lượng Công an đã tiến hành niêm phong vật chứng và đưa T về trụ sở làm việc.

Ngày 03/8/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ccon Cuông đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng toàn bộ gói chất bột màu trắng (nghi là Hêrôin) thu giữ của Lương Văn T có trọng lượng 0,125g. Sau khi loại bỏ bao bì, số chất bột màu trắng còn lại là 0,025g và lấy toàn bột chất bột màu trắng gửi đi giám định. Tại kết luận giám định số: 872/KL-PC54(MT) ngày 04/8/2017 của phòng KTHS - Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn T gửi tới giám định là ma túy Hêrôin.

Cáo trạng số: 55/VKS - HS ngày 07/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông đã truy tố bị cáo Trịnh Văn Q về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt; đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị xử phạt Q từ 05 năm đến 06 năm tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung, truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 290.000 đồng do bị cáo thu lợi bất chính, tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án, bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo;

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Trịnh Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ đến 09 giờ ngày 02/8/2017, tại nhà riêng ở Bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Trịnh Văn Q đã có hành vi 04 lần bán trái phép chất ma túy Hêrôin cho Kha Văn Đ, Lô Văn T và Lương Văn T với tổng số tiền 290.000 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý và chỉ trong một thời gian ngắn, bị cáo đã nhiều lần bán chất ma túy cho các đối tượng nghiện khác nhằm mục đích kiếm lời. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm quy định của nhà nước về quản lý chất ma tuý, mà còn gây tác hại nhiều mặt đến đời sống xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân và là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng để có ma túy sử dụng bị cáo đã ngang nhiên bán ma túy cho các đối tượng nghiện ma túy khác. Chứng tỏ bị cáo liều lĩnh và coi thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo lao động, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực giúp dỡ cơ qian có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, q khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo có bố là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba cần áp dụng khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xét bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập thấp, tài sản không có nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra Q khai nhận số Hêrôin mà Q bán cho Đ, T và T vào ngày 02/8/2017 là Q mua của một người đàn ông không quen biết ở đỉnh dốc Pù Huột, xã, huyện C. Hiện cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông đó nên tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với Lương Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng do trọng lượng chất ma túy thu giữ chỉ là 0,025gam, nên không đủ điều kiện để xử lý hình sự mà giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục là đúng theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Thu tại Lương Văn T 0,025 gam Hêrôin, cơ quan Cảnh sát điều tra đã lấy toàn bộ đi giám định, số vật chứng còn lại: 01 mảnh giấy được xé ra từ vỏ bao thuốc lá con cò; 01 phong bì thư đã mở niêm phong là những vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 290.000 đồng Q bán chất ma túy cho Đ, T và T là tiền thu lợi bất chính nên cần truy thu, sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Q 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/8/2017.

Vật chứng: Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 phong bì thư bưu điện đã niêm phong bên trong có: 01 mảnh giấy được xé ra từ vỏ bao thuốc lá con cò; 01 phong bì thư đã mở niêm phong.

Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm được ghi tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2017 giữa Công an huyện C và Chi cụ Thi hành án dân sự huyện Con Cuông.

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi ngàn đồng) tại Trịnh Văn Q.

Kể từ ngày bản án có hiêu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong khoản tiền truy thu, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án buộc Trịnh Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


70
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về