Bản án 53/2017/HSST ngày 10/11/2017 về tội hủy hoại tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 53/2017/HSST NGÀY 10/11/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 11 năm 2017 tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2017/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị D, tên gọi khác: Nguyễn Thị Tuyết N; sinh năm: 1971 tại: Thành phố H; nơi đăng ký NKTT: Không đăng ký; chỗ ở: TDP9, TT. K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; con ông Nguyễn Đình T (đã chết); con bà Nguyễn Thị N; chưa có chồng con; bị bắt tạm giam ngày 23/8/2017 đến ngày 14/9/2017 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.

Người bị hại: Anh Hồ Xuân H; địa chỉ: TDP9, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh ĐăkNông – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Thị D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng đầu tháng 01/2017, Nguyễn Thị D đến làm công cho anh Hồ Xuân H tại cơ sở rang xay cà phê B H. Đến khoảng 13 giờ ngày 09/02/2017, giữa D và anh H xảy ra mâu thuẫn với nhau nên anh H đuổi việc D. D yêu cầu anh H phải bồi thường 10.000.000đ thì mới đi. Anh H không đồng ý trả nên D nảy sinh bực tức và cầm một thanh sắt hình chữ V để gần đó đập mạnh nhiều cái vào chiếc ti vi màu 32inh, màn hình phẳng, nhãn hiệu ASANZO của anh H treo trên tường làm màn hình ti vi vỡ nát, gãy phần bo mạch bên trong (thiệt hại hoàn toàn). D tiếp tục đập nhiều cái vào chiếc xe mô tô BKS: 48H1-089.73 và chiếc máy ép miệng bao bì của anh H làm cho chiếc xe mô tô và máy ép bao bì bị hư hỏng nhiều bộ phận, cụ thể là: vỡ hộp đầu trước, hộp đầu sau, mặt kính đồng hồ, kính chiếu hậu, bửng bên ngoài, bửng bên trong và ốp sườn bên trái của chiếc xe mô tô đều bị vỡ; gãy cần ép bên phải của chiếc máy ép bao bì. Sau đó, anh H báo cơ quan công an đến giải quyết vụ việc.

Vật chứng vụ án: 01 thanh sắt hình chữ V, có kích thước là 50 x 5 x 5cm.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 01/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk R’Lấp kết luận:

Trị giá thiệt hại thực tế của 01 ti vi màu 32inh, màu đen, màn hình phẳng, nhãn hiệu ASANZO, model: 32S500 là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng);

Trị giá thiệt hại thực tế của các bộ phận trên xe mô tô BKS: 48H1-089.73 là 1.620.000đ (Một triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng);

Trị giá thiệt hại thực tế của cần ép phía bên phải của máy ép miệng bao bì là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Như vậy, tổng trị giá tài sản thiệt hại do hành vi hủy hoại tài sản của Nguyễn Thị D gây ra là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số: 34/CTr - VKS ngày 16 tháng 6 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội: “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 143; các điểm g, h và p khoản 1 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài hậu quả làm thiệt hại hoàn toàn chiếc ti vi nêu trên thì hành vi của Nguyễn Thị D còn làm hư hỏng chiếc xe mô tô mang BKS: 48H1-089.73 và chiếc máy ép miệng bao bì. Tuy nhiên, tổng trị giá thiệt hại của đối với 02 tài sản trên là 1.920.000đ nên không đề cập xử lý hình sự.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa, bi cáo Nguyễn Thị D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Ngày 09/02/2017, giữa D và anh H xảy ra mâu thuẫn, D cầm một thanh sắt hình chữ V đập mạnh nhiều cái vào chiếc ti vi màu 32inh, nhãn hiệu ASANZO của anh H treo trên tường làm màn hình ti vi vỡ nát, gãy phần bo mạch bên trong (thiệt hại hoàn toàn), gây thiệt hại 2.400.000 đồng. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thị D phạm tội  “Hủy hoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 143 của Bộ luật hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản chung của anh H. Để đảm bảo mục đích giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 143 của Bộ luật hình sự.

Về các tình tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Song cũng xem xét sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, giá trị thiệt hại về tài sản do bị cáo gây ra là không lớn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h và p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; trường hợp không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Bị cáo có đủ các điều kiện để hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân nhân Tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự.

[2] Về vật chứng vụ án:

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 41; Điều 42 của Bộ luật hình sự; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 01 thanh sắt hình chữ V, có kích thước là 50 x 5 x 5cm do Nguyễn Thị Dung làm công cụ phạm tội cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 ti vi màu 32inh, màu đen, màn hình phẳng, nhãn hiệu ASANZO, model: 32S500; 01 xe mô tô BKS: 48H1- 089.73; 01 máy ép miệng bao bì cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hồ Xuân Hưng.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; khoản 1Điều 589 của Bộ luật dân sự: Buộc Nguyễn Thị D phải bồi thường thiệt hại cho anh Hồ Xuân H số tiền 4.320.000đ (Trong đó: Trị giá thiệt hại thực tế của 01 ti vi màu 32inh nhãn hiệu ASANZO là 2.400.000 đồng; Tiền sữa chữa các bộ phận trên xe mô tô BKS: 48H1- 089.73 là 1.620.000 đồng và cần ép phía bên phải của máy ép miệng bao bì là 300.000 đồng) và số tiền 1.350.000 đồng bị cáo lấy trong túi quầnanh H vào sáng ngày 09/02/2017 để mua thuốc đau đầu và viêm phổi, anh H yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ trả lại cho anh H, xét yêu cầu của anh là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho anh H là: 5.670.000 đồng.

Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơthẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D (tên gọi khác: Nguyễn Thị Tuyết N) phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 143; các điểm g, h và p khoản 1 Điều 46; khoản 1 khoản 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/11/2017).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Các biện pháp tư pháp:

2.1. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự: 

Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải bồi thường cho anh Hồ Xuân H tổng số tiền 5.670.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật. 

2.2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 42 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt hình chữ V, có kích thước là 50 x 5 x 5cm (Tình trạng cụ thể có trong biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21, điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sửdụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


78
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về