Bản án 52/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 52/2019/HS-ST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn B; tên gọi khác: Không; sinh năm 1979; tại xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Lớp 2/12; con ông: Lò Văn T, đã chết và con bà: Lò Thị L, sinh năm 1958; bị cáo có vợ là Lò Thị K, sinh năm 1981 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy; nhân thân: Năm 2008 phạm tội Trộm cắp tài sản và bị xử phạt 09, năm 2010 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị xử phạt 30 tháng tù, năm 2015 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị xử phạt 36 tháng tù; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2019 đến ngày 05/4/2019 và bị tạm giam từ ngày 06/4/2019 cho đến nay. Bị cáo đã được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 02/4/2019; Lò Văn B một mình đi bộ từ bản K, xã M, huyện T thì gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ. Khi gặp, B chủ động hỏi “Em có Heroine bán không, bán cho anh một trăm nghìn đồng”, người đàn ông đó nói “Em có một ít, mua thì đưa tiền đây”, B lấy 100.000đ đưa cho người đàn ông đó. Người đàn ông đó nhận tiền, sau đó đưa cho B 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng. Việc trao đổi mua bán Heroine, chỉ có B và người đàn ông đó biết với nhau ngoài ra không có ai biết và tham gia cùng. Sau khi mua được Heroine, B đi về nhà và cấu một ít Heroine để sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, B cất giấu dưới đệm ngủ của B. Đến khoảng 09 giờ ngày 03/4/2019, B đang ở nhà một mình thì có một người đàn ông, B không biết tên tuổi địa chỉ đến nhà hỏi mua Heroine của B. Qua trao đổi, B đã đồng ý bán cho người đàn ông đó một ít Heroine với giá 100.000đ. Số Heroine còn lại B tiếp tục cất giấu chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo phát hiện bắt quả tang, thu giữ. Tổ công tác đã đưa Lò Văn B cùng vật chứng thu giữ được về Cơ quan điều tra để làm rõ.

Sau khi đưa vật chứng về Cơ quan điều tra, Công an huyện Tuần Giáo thì Cơ quan điều tra đã mở niêm phong có sự chứng kiến của bị cáo: Đối với 01 gói chất bột màu trắng nghi Heroine thu giữ của bị cáo được xác định khối lượng là 0,31 gam, cơ quan điều tra đã trích mẫu vật gửi giám định. Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số: 77, ngày 06/4/2019. Tại bản Kết luận giám định số: 424/GĐ-PC09 ngày 18/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn B gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroine.

Tại Cáo trạng số: 35/CT-VKS-TG ngày 10 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn B về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Vị kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS tuyên phạt bị cáo B từ 36 tháng đến 42 tháng tù; không phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa: 0,29 gam Heroine; tịch thu 100.000đ của Lò Văn B là tiền đã bán ma túy để sung quỹ Nhà nước; trả lại cho Lò Văn B 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Goly và 200.000đ do không liên quan đến hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo B nhận mình đã có hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi của bị cáo; thì tại phiên tòa bị cáo Lò Văn B đã thừa nhận:

Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 02/4/2019; B đã mua 01 gói Heroine với giá 100.000đ của một người đàn ông dân tộc Thái; bị cáo không quen biết, việc trao đổi mua bán ma túy khi bị cáo thực hiện không có ai biết, không có ai tham gia cùng bị cáo, không cân xác định khối lượng. Khi mua được ma túy, B đi về nhà và cấu một ít Heroine ra dùng bằng hình thức hít. Đến khoảng 09 giờ ngày 03/4/2019,

B đang ở nhà một mình thì có một người đàn ông, B không biết tên tuổi địa chỉ đến nhà hỏi mua Heroine của B. Qua trao đổi, B đã đồng ý bán cho người đàn ông đó một ít Heroine với giá 100.000đ. Số Heroine còn lại B tiếp tục cất giấu và đã bị phát hiện thu giữ. Số Heroine thu giữ được xác định khối lượng là 0,31 gam. Quá trình mở niêm phong xác định khối lượng thì bị cáo đều được chứng kiến và thừa nhận khối lượng thu giữ được xác định là hoàn toàn chính xác. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung cáo trạng và tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi mua ma túy của bị cáo Lò Văn Bính nhằm mục đích vừa sử dụng, vừa bán lẻ kiếm lời và bị cáo đã bán 100.000đ ma túy, như vậy bị cáo đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, đồng thời hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm cho tình hình phạm tội về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi tàng trữ số Heroine thu giữ được xác định khối lượng là 0,31 gam với mục đích bán lẻ kiếm lời của bị cáo và bị cáo đã bán Heroine cho một người được 100.000đ, do đó không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lò Văn B sinh ra và lớn lên tại xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; B được bố mẹ cho học nhưng chỉ học hết lớp 2/12 thì B nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 1999 kết hôn với chị Lò Thị K và có 02 người con. Năm 2008 phạm tội Trộm cắp tài sản và bị xử phạt 09 tháng tù, đến năm 2009 chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống. Năm 2010 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị xử phạt 30 tháng tù đến năm 2012 thì chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống. Năm 2015 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị xử phạt 36 tháng tù; đến ngày 28/4/2018 chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống. Bị cáo tái nghiện từ tháng 01/2019. Đến ngày 05/4/2019 bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Bị cáo phạm tội trong trường hợp chưa được xóa án tích nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 tại Điều 52 BLHS đối với bị cáo. Bị cáo đã nhiều lần nhận được sự cải tạo giáo dục của Nhà nước, nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi, sống lương thiện hơn mà bị cáo khi về địa phương sinh sống tiếp tục tái nghiện ma túy. Cũng chính vì nghiện ma túy, mà dẫn đến việc bị cáo có hành vi phạm tội như ngày hôm nay. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện; qua đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo; bởi vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội và cũng là một cơ hội nữa cho bị cáo cai nghiện ma túy.

[5] Theo khoản 5 Điều 251 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với bị cáo Lò Văn B từ 36 tháng đến 42 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo nên cần chấp nhận.

[7] Đối với hai người đàn ông dân tộc Thái, bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông đã mua ma túy của bị cáo; do quá trình trao đổi mua bán ma túy giữa bị cáo với những người này bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ, bởi vậy HĐXX không xem xét.

[8] Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,20 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng. Tịch thu 100.000đ là tiền bị cáo đã bán ma túy cho người đàn ông không quen biết. Trả lại cho bị cáo 200.000đ và 01 chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Goly đã qua sử dụng do những vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội.

[9] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và bị cáo cũng không có ý kiến khiếu nại đối với các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 03/4/2019.

3. Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,2 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng; tịch thu 100.000đ của bị cáo B để sung quỹ Nhà nước. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Goly, màu đen, đã qua sử dụng và 200.000đ. Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo và Công an huyện Tuần Giáo.

4. Án phí: Bị cáo Lò Văn B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lò Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/7/2019).


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:52/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về