Bản án 52/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 52/2019/HS-ST NGÀY 10/04/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu H, sinh ngày 10/4/1996 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H và bà Đàm Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Ngày 30/5/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2019 đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1. Vi Hồng P, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

2. Hoàng Thị T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Số 78 C đường V, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Số 44/1 đường M, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

2. Anh Trần Anh T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Số 29/01, phố M, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

3. Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

4. Anh Hà Thế A, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Số 69, đường N phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

5. Anh Hoàng Trung T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Ngõ 41/1 đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1993; vắng mặt.

+ Anh Lành Văn S, sinh năm 1997; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/10/2018 Nguyễn Hữu H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe moto Yamaha Jupiter Biển kiểm soát 12D1-153.97 của anh Vi Hồng P, trú tại thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến ngày 01/11/2018 Nguyễn Hữu H lại tiếp tục có hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe moto Honda Future Biển kiểm soát 12K4-5351 của chị Hoàng Thị T, trú tại số 78C đường V, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

Tại biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự số 204/ĐGTSTT ngày 28/11/2018 Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố Lạng Sơn xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1-153.97 của anh Vi Hồng P trị giá 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng).

Tại biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự số 213/ĐGTSTT ngày 05/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố Lạng Sơn xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K4-5351 của chị Hoàng Thị Trang trị giá 5.000.000đ (năm triệu đồng).

Tại Bản cáo trạng số 55/KSĐT ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Sau khi chấp hành xong hình phạt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 30/6/2018, trở về địa phương chưa tìm được việc làm ổn định dẫn đến không có tiền chi tiêu. Do có mối quan hệ và biết anh Vi Hồng P đang làm ở thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn từ trước. Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/10/2018, bị cáo đang chơi điện tử tại quán net Bình Dong, gần ngã ba Na Làng, thành phố L gọi điện thoại cho anh Vi Hồng P và rủ xuống thành phố L chơi. Khoảng 30 phút sau, anh Vi Hồng P điều khiển xe moto nhãn Yamaha Jupiter, Biển kiểm soát 12D1- 153.97 đến gặp bị cáo. Do không có tiền để trả nợ bạn bè và chi tiêu cá nhân, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô nên đã nói với anh Vi Hồng P cho mượn xe để đi gặp bạn một lúc sẽ trả lại. Sau khi mượn được xe bị cáo điều khiển đến nhà Nguyễn Quang B nhờ đem đi "cầm cố”. Nguyễn Quang B nhận và mang xe đi cầm cố về đưa cho bị cáo 2.700.000 đồng. Bị cáo lại cho Nguyễn Quang B 200.000 đồng coi như tiền công đã đem chiếc xe đi cầm cố giúp. Số tiền còn lại bị cáo đã trả nợ cho bạn bè và chi tiêu hết.

Cùng với thủ đoạn như trên, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/11/2018, bị cáo đến nhà Lành Văn S chơi thì thấy chị Hoàng Thị T, trú tại số 78C, đường V, phường C, thành phố L cùng Hoàng Văn N, trú tại thôn K, xã H điều khiển xe moto Honda future Biển kiểm soát 12K4-5351 (xe của Hoàng Thị T) đến chơi. Bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe để lấy tiền nên hỏi chị T cho mượn để đi gặp bạn nên được chị T đồng ý. Bị cáo lấy chìa khóa xe để trên bàn rồi ra ngoài sân gọi điện thoại cho Hoàng Văn V, trú tại thôn H, xã H nhờ đem đi cầm cố thì được Hoàng Văn V hẹn đến quán internet số 72 đường N, thành phố L. Tại đây, Hoàng Văn V nói không biết chỗ cầm cố xe, nên bị cáo rủ đi cùng tìm chỗ cầm cố. Bị cáo gọi điện thoại cho Hà Thế A, trú tại đường T, phường T, thành phố L nhờ tìm nơi cầm cố xe thì được Hà Thế A cung cấp số điện thoại của Hoàng Trung T, trú tại ngõ 1 L, phường V, thành phố L để bị cáo liên hệ cầm cố chiếc xe mô tô với Hoàng Trung T được 2.600.000 đồng. Sau đó nạp vào thẻ chơi game và chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng. Về bồi thường dân sự: không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại hai chiếc xe mô tô cho các bị hại Vi Hồng P và Hoàng Thị T; đề nghị tịch thu hóa giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng; số Imei 990002275082798 lắp sim mạng Viettel số 0364743996 sung Ngân sách Nhà nước, trả lại cho bị cáo 01 thẻ ATM số 9704155238010260. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo cho rằng chiếc điện thoại cơ quan điều tra thu giữ là do mẹ của bị cáo cho tiền để bị cáo mua, không sử dụng vào giao dịch khi thực hiện hành vi phạm tội; lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu Hùng tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi dùng thủ đoạn gian dối của bị cáo để chiếm đoạt hai chiếc xe mô tô, tổng trị giá 26.000.000 đồng của hai bị hại là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong trong quần chúng nhân dân.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 07/12 và là đối tượng sử dụng ma túy, đến nay không có nghề nghiệp. Bị cáo đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội do cố ý.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/5/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội hai lần. Đây là tình tiết tái phạm và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ được chấp nhận. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bi cao vẫn là cần thiết, đê bi cao cai tao và sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần răn đe và phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

[9] Đối với hành vi của Nguyễn Quang B đem chiếc xe cầm cố với Trần Anh T. Hoàng Văn V và Hà Thế A mặc dù không trực tiếp giao dịch nhưng có hành vi đi cùng với bị cáo và cung cấp số điện thoại của Hoàng Trung T để bị cáo liên hệ cầm cố lấy tiền chi tiêu. Đối với Trần Anh T và Hoàng Trung T đã có hành vi nhận cầm cố tài sản. Do không biết hai chiếc xe mô tô do bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không khởi tố với vai trò đồng phạm là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, xác minh người chiếm hữu hợp pháp chiếc xe Jupiter Biển kiểm soát 12D1-153.97 là của anh Vi Hồng P và chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Future Biển kiểm soát 12K4- 5351 chủ sở hữu là ông Hoàng Thắng M (bố đẻ của chị Hoàng Thị T). Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại hai chiếc xe cho các chủ sở hữu. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, tại phiên tòa bị cáo cho rằng chưa dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên bị cáo lại không có căn cứ chứng minh nguồn gốc và việc bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước, còn 01 thẻ ATM số 9704155238010260 là tài sản của bị cáo nên trả lại để sử dụng.

[11] Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa bị hại Vi Hồng P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; chị Hoàng Thị T vắng mặt, tuy nhiên tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt không yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trần Anh T là người nhận cầm cố với Nguyễn Quang B; Hoàng Trung T nhận cầm cố với bị cáo vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[12] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[13] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H, phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/01/2019.

3. Về bồi thường dân sự: Tách phần bồi thường dân sự giữa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trần Anh T, Nguyễn Quang B và Hoàng Trung T với bị cáo để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu hóa giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng; số Imei 990002275082798 sung Ngân sách Nhà nước, trả lại cho bị cáo 01 thẻ ATM số 9704155238010260.

5. Bị cáo Nguyễn Hữu H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo; bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:52/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về