Bản án 515/2019/HS-ST ngày 07/11/2019 về trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 515/2019/HS-ST NGÀY 07/11/2019 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 11 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 480/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 507/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019, đối với:

- Bị cáo: Lê Mạnh H, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 87, B1, Khu phố 3, phường P, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 38/17, đường N, Khu phố 6, phường A, quận B2, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Kỳ C; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/8/2019. Ngày 16/8/2019, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại:

1/ Chị Lương Ngọc Phương A, sinh năm 1978; cư trú tại: 49/243, Khu phố 4, phường T1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2/ Chị Cao Ngọc Quỳnh N, sinh năm 1995; cư trú tại: 69/59a, Khu phố 8, phường T2, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

3/ Chị Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1995; cư trú tại: A2/289A, Khu phố 2, phường T3, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Lê Mạnh H là nhân viên phòng nhân sự của Công ty Trách nhiệm hữu hạn F, chi nhánh huyện T4, tỉnh Đồng Nai. Theo sự phân công của Công ty, hàng tuần H đến trụ sở chính của Công ty tại tầng 17 tòa nhà S, Khu công nghiệp B1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để làm việc từ hai đến ba ngày. Do cần tiền tiêu xài nên H đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp cụ thể như sau:

- Lần 01:

Sáng ngày 23/11/2018, H đến tầng 17 tòa nhà S, Khu công nghiệp B1, thành phố B để làm việc, đến khoảng 12 giờ 37 phút cùng ngày, lợi dụng nhân viên làm chung phòng với H đi ăn cơm, H đi đến bàn làm việc của chị Lương Ngọc Phương A lấy trong túi xách của chị A số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau đó, đến 16 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc chị Cao Ngọc Quỳnh N là nhân viên làm cùng phòng với H đi ra ngoài, do biết chị N thường để tiền trong ngăn kéo bàn làm việc nên H đã đi đến bàn làm việc của chị N mở ngăn kéo bàn lấy trộm số tiền 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) của chị N.

- Lần 02:

Ngày 29/11/2018, H tiếp tục đến tầng 17 tòa nhà S, Khu công nghiệp B1, thành phố B để làm việc như thường lệ. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, lợi dụng lúc nhân viên làm chung phòng với H tổ chức liên hoan trên tầng 18 tòa nhà S, H đã đi xuống phòng làm việc và đi đến bàn làm việc của chị Nguyễn Hoàng Anh T lục trong túi xách của chị T lấy trộm số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi phát hiện bị mất tiền, chị Cao Ngọc Quỳnh N và chị Nguyễn Hoàng Anh T đã báo cáo lãnh đạo Công ty kiểm tra camera thì phát hiện H là người đã lấy trộm tiền nên đã trình báo Công an Đồn Khu công nghiệp B, Công an Đồn Khu công nghiệp B lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý theo quy định.

Về dân sự: Lê Mạnh H đã trả lại cho chị A, chị N và chị T toàn bộ số tiền đã trộm cắp; chị A, chị N và chị T không yêu cầu gì thêm.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 487/CT-VKSBH ngày 02/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Lê Mạnh H về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo Khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

+ Áp dụng Khoản 1, Điều 173 và Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Mạnh H từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

3. Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

- Người bị hại trình bày trong hồ sơ vụ án: Tài sản người bị hại đã nhận lại nên không yêu cầu gì; đối với trách nhiệm hình sự của bị cáo thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Người bị hại là chị Lương Ngọc Phương A, chị Cao Ngọc Quỳnh N và chị Nguyễn Hoàng Anh T vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, chị A, chị N và chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường. Việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào các ngày 23 tháng 11 năm 2018 và ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại tầng 17 tòa nhà S, Khu công nghiệp B1, thành phố B, Lê Mạnh H đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Lương Ngọc Phương A số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng), chị Cao Ngọc Quỳnh N số tiền 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng), chị Nguyễn Hoàng Anh T số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng tài sản H đã trộm cắp là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) thì bị phát hiện, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

- Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đang trong độ tuổi lao động, có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nhưng lại thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số: 487/CT-VKSBH ngày 02/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần thuộc trường hợp quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi hành vi bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản cho người bị hại thuộc trường hợp được quy định tại Điểm b, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định nêu trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lê Mạnh H để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Người bị hại chị Lương Ngọc Phương A, chị Cao Ngọc Quỳnh N và chị Nguyễn Hoàng Anh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp nên chấp nhận; về mức hình phạt, đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.

- Đối với trình bày của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ Khoản 1, Điều 173; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; điểm g, Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án, trừ đi số ngày tạm giam từ ngày 07/8/2019 đến ngày 16/8/2019.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Lê Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 515/2019/HS-ST ngày 07/11/2019 về trộm cắp tài sản

Số hiệu:515/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về