Bản án 51/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 51/2020/HS-ST NGÀY 16/09/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 16 tháng 09 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 06 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 06 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/HSST-QĐ ngày 14 tháng 07 năm 2020 đối với bị cáo:

LÊ VŨ HOÀNG T (Tên gọi khác: Tý Đ) - Sinhữngày 04 tháng 10 năm 1995 tại Quảng Nam; nơi ĐKNKTT: thôn A Ph, xã B An, huyện TB, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: tổ 37, phường HM, quận LC, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê T (s) và bà Võ Thị L (s); Tiền án, tiền sự: chưa.

Nhân thân:

- Ngày 16/8/2015, Tòa án nhân dân quận TKh, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù giam về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Bản án số 98/2015/HSST.

- Ngày 20/6/2017, Công an quận LC, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 257/QĐ-XPHC về hành vi xúc phạm người thi hành công vụ, đã nộp phạt ngày 27/2/2017.

- Ngày 12/8/2019, Công an quận LC, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 46/QĐ-XPVPHC về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03.10.2019. (có mặt)

- Bị hại: Anh Trần Đức C – sinh năm 1974; trú tại: tổ 53, phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

01. Chị Hà Thị Bảo V – sinh năm 1978; trú tại: số 278 NVC, phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

02. Bà Huỳnh Thị Phƣớc H – sinh năm 1946; trú tại: thôn LĐTh, xã LĐ, huyện PhL, tỉnh Thừa Thiên- Huế. (có mặt)

03. Anh La Thế Qu – sinh năm 1990; trú tại: thôn LĐTh, xã LĐ, huyện PhL, tỉnh Thừa Thiên- Huế.(vắng mặt)

04. Ông Hà B – sinh năm 1954; trú tại: tổ 15, phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

05. Anh Hà Hải H1 – sinh năm 1983; trú tại: tổ 15, phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 19h00 ngày 25/7/2019, chị Hà Thị Bảo V là chủ quán nhậu BNg đang ở quán tại địa chỉ đường NgTTh, phường HM, quận LC thì thấy một chiếc xe môtô của anh Võ Văn Q (Sn: 1989, trú: xã ĐT, huyện ĐB, tỉnh Quảng Nam) là chủ quán nhậu CB dựng ở khoảng trống giữa hai quán. Chị V cho rằng việc Q dựng chiếc xe môtô trên gây cản trở việc kinh doanh của quán mình nên gọi Qu ra nói chuyện. Hai bên lời qua tiếng lại một lúc thì chị V dùng chân đạp chiếc xe môtô trên đổ xuống đường. Lúc này, mẹ của Q là bà Huỳnh Thị Phước H và em trai là La Thế Qu chạy ra và xô xát với chị V. Sau khi được mọi người can ngăn thì hai bên trở lại quán của mình.

Khi về đến quán nhậu CB, La Thế Qu chửi bới qua bên quán BN nên một số người bên quán BN trong đó có ông Hà B cha ruột chị V và anh Hà Hải H1 là em ruột chị V đi qua quán CB có lời qua tiếng lại nhưng không xảy ra xô xát gì cả.

Quá trình điều tra và theo lời khai của T, thời điểm trên, T đang đi sinh nhật ở khu vực gần cầu Thuận Phước, quận Hải Châu thì nhận được điện thoại của anh La Thế Qu với nội dung nhờ đến quán giúp giải quyết mấy người bên quán BN qua gây sự, đánh anh Quang, T đồng ý; tuy nhiên, La Thế Qu không thừa nhận đã gọi cho T, và số điện thoại 0764.121312 đã liên lạc với T là số điện thoại chung của quán, có nhiều người sử dụng để liên lạc. Sau khi nhận cuộc gọi, T rủ nhóm bạn tên Ph, L và bạn của L (chưa rõ lai lịch) cùng đi; sau đó, T điều khiển xe môtô chạy về phòng trọ của mình ở đường TrĐT, phường HM lấy 01 con dao tự chế dài 60cm cất vào trong cốp xe; sau đó cùng với nhóm bạn chạy đến dựng xe ở giữa 02 quán CB và BN. T đi vào trong quán nhậu CB để gặp Qu hỏi: “mấy thằng đánh anh mô rồi?”, thì Qu đang nằm dưới bếp nói: “bên kia!”, đồng thời chỉ tay sang quán BN. T đi qua quán BN thì gặp chị V ở đó và nói rằng: “Lúc nãy ai qua gây sự, đánh ông anh bên quán CB?”, chị V trả lời “không có ai gây sự đánh nhau cả”. Lúc này, anh H1 cầm 01 thanh sắt đòi đánh T nên T chạy ra chỗ dựng xe môtô, mở cốp xe lấy ra con dao chuẩn bị sẵn từ trước xông vào quán đấm vào mặt anh H1 01 cái nhưng chưa gây thương tích, anh H1 có cầm thanh sắt đánh lại nhưng không trúng. Lúc này, thấy anh Trần Đức C là chồng chị V đang đứng ở chỗ bếp nướng, T chạy vào đánh thì anh C bỏ chạy ra khu vực phía sau được một đoạn thì bị vấp ngã, T chạy đến dùng dao chém anh C 01 cái. Anh C đưa tay lên đỡ nên bị thương ở bàn tay phải. Sau đó, nhóm của T bỏ đi và vứt con dao trên lại bên đường (không rõ vị trí cụ thể). Anh C được gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu và trình báo sự việc với cơ quan Công an. Qua quá trình điều tra, Lê Vũ Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.

Theo Kết luận giám định pháp y số: 285/TgT ngày 04/9/2019 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế TP. Đà Nẵng đối với thương tích của anh Trần Đức C: Ch n thương tay phải: Gãy hở xương bàn I, đứt gân gấp ngón cái dài đã được điều trị phẫu thuật kết hợp xương, nối gân. Hiện tại vết thương bên ngoài đang lành, còn sưng nề nhẹ, không biến dạng bàn tay, vận động ngón I còn hạn chế. Xquang kiểm tra xương thẳng trục, can tốt. Tổn thương phần mềm (đã nêu trong kết luận). Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 18%.

Tại bản cáo trạng số 26/CT- VKS ngày 11.03.2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Lê Vũ Hoàng T về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng vẫn gi nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Vũ Hoàng T phạm tội "Cố ý gây thương tích"

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Vũ Hoàng T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 46.796.000đ bị cáo đồng ý bồi thường, hiện gia đình bị cáo đã thực hiện việc bồi thường 10.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật. Bị cáo Lê Vũ Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Quá trình giải quyết vụ án, người bị hại anh Trần Đức C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hà Thị Bảo V có đơn tố cáo đề ngày 11.09.2020 cho rằng có sự việc làm sai lệch hồ sơ vụ án, bị cáo Lê Vũ Hoàng T đi trong nhóm 04 người đến quậy phá, cố ý gây thương tíchấtại quán BN nhưng T không phải người trực tiếp chém gây thương tích cho anh C. Tại phiên tòa anh C, chị V khẳng định hoàn toàn không có việc tố cáo cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên do bức xúc vì bị cáo, gia đình bị cáo chưa thăm hỏi, bồi thường và bản thân anh chị không nắm rõ quy định của pháp luật nên đã viết đơn tố cáo cũng như có những lời khai mâu thuẫn tại phiên tòa với mục đích mong muốn các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ hành vi của La Thế Qu và những người đi cùng Lê Vũ Hoàng T. Do đó anh C, chị V xin rút lại toàn bộ nội dung đơn tố cáo và đề nghị HĐXX tiếp tục giải quyết xét xử đối với bị cáo T là người đã gây thương tích cho anh C theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Liên Chiểu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Vũ Hoàng T tại phiên tòa phù hợp phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cở sở kết luận: Vào tối ngày 25/7/2019, tại quán nhậu BN đường Nguyễn Tất Thành, phường HM, quận LC, thành phố Đà Nẵng, mặc dù không có mâu thuẫn gì với những người trong quán BN, nhưng Lê Vũ Hoàng T đã sử dụng con dao dài khoảng 60cm chém một nhát trúng ngón 1 bàn tay phải của anh Trần Đức C gây thương tích với tỷ lệ 18% (Mười tám phần trăm).

[3] Xét mặc dù không có mâu thuẫn với bị hại anh Trần Đức C cũng như những người khác trong quán BN, Lê Vũ Hoàng T đã sử dụng con dao dài khoảng 60cm là hung khí nguy hiểm chém một nhát trúng ngón 1 bàn tay phải của anh Trần Đức C gây thương tích 18%. Hành vi của bị cáo đã thể hiện sự liều lĩnh, côn đồ, coi thường pháp luật, sức khỏe của người khác đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 26/CT- VKS ngày 11 tháng 03 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Vũ Hoàng T đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương. Nhân thân của bị cáo xấu, ngày 16/8/2015, bị Tòa án nhân dân quận TKh xử phạt 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; ngày 20/6/2017, bị Công an quận LC ra xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm người thi hành công vụ; ngày 12/8/2019 bị Công an quận LC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị bắt khi đang trong thời gian xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung như ý kiến đề xuất của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp.

[5] Song xét quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đã tác động người thân bồi thường một phần số tiền theo yêu cầu của bị hại, Hội đồng xét xử sẽ vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc mức hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình.

Trong vụ án này, nhóm bạn của T gồm Ph, Lvà bạn của L chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Sau khi nhóm của T bỏ đi, có một số đối tượng không rõ lai lịch đến đập phá đồ đạc của quán chị V. Tuy nhiên, sau khi sự việc xảy ra, chị V đã bán phế liệu và hiện chưa xác định được lai lịch các đối tượng nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

Đối với sợi dây chuyền vàng tây của chị V đeo bên ngoài, sau khi xảy ra xô xát, chị V không xác định được thời điểm rơi vào lúc nào, tại đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.

Đối với La Thế Qu, quá trình điều tra không thừa nhận việc sử dụng thuê bao 0764.12.1312 gọi điện cho T cũng như không liên quan đến nhóm người vào quán BN gây thương tích cho anh C. Quá trình giải quyết vụ án ngày 05.06.2020, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã ra Quyết định số 04/2020/HSST-QĐ trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu yêu cầu điều tra bổ sung để xem xét vai trò đồng phạm của La Thế Qu trong vụ án. Ngày 12.06.2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu có văn bản số 305/VKS gi nguyên quyết định truy tố. Do đó, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu kiến nghị Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu tiếp tục điều tra, xử lý đối với La Thế Qu để tránh bỏ lọt tội phạm.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại là anh Trần Đức C yêu cầu bị cáo Lê Vũ Hoàng T bồi thường tổng cộng số tiền 46.796.000 đồng, gồm:

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: 3.000.000 đồng.

Thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị: 36.000.000 đồng.

Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm: 1.000.000 đồng Chi phí cấp cứu tại bệnh viện và tiền thuốc điều trị: 6.796.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của người bị hại do đó HĐXX ch p nhận buộc bị cáo Lê Vũ Hoàng T bồi thường cho anh Trần Đức C số tiền 46.796.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường được cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, còn lại số tiền 36.796.000 đồng buộc bị cáo tiếp tục bồi thường.

[7] Về án phí: Theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.840.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Vũ Hoàng T (Tên gọi khác: Tý Đ) phạm tội "Cố ý gây thương tích".

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

- Xử phạt: bị cáo Lê Vũ Hoàng T (Tên gọi khác: Tý Đ) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 03.10.2019.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Lê Vũ Hoàng T phải bồi thường cho bị hại anh Trần Đức C số tiền 46.796.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), còn lại số tiền 36.796.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng) buộc bị cáo tiếp tục bồi thường. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người có nghĩa vụ thi hành chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu lãi su t trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án

2. Về án phí: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14.

Bị cáo Lê Vũ Hoàng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.840.000 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. .

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêmấyết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:51/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về