Bản án 51/2020/HNGĐ-ST ngày 26/08/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 51/2020/HNGĐ-ST NGÀY 26/08/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2020/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2020/QĐXXST-HN ngày 15/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2020/QĐST – HN ngày 05/8/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn Ph, sinh năm: 1977. Cư trú: Ấp B.B, xã Th.H, huyện An Minh, Kiên Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Chị Bùi Thị Đ, sinh năm: 1983. Cư trú: Ấp X.I, xã Đ.H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.(Vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 15/10/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Huỳnh Văn Ph trình bày và yêu cầu như sau: Anh và chị Đ chung sống với nhau từ năm 2000. Vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định và được UBND xã Đ.H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/12/2014. Sau khi cưới thì vợ chồng về sinh sống tại ấp X.I cho đến năm 2015 thì vợ chồng ly thân cho đến nay.

Trong quá trình vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Đ ham mê cờ bạc và còn có mối quan hệ với người đàn ông khác. Anh đã cho nhiều cơ hội nhưng chị Đ không sửa đổi.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Huỳnh Nhĩ Kh (sinh ngày 26/12/2001), cháu đã trưởng thành và tự lao động được.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có phát sinh.

Do xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Đ; về con chung (hiện nay đã trưởng thành), tài sản chung và nợ chung không có tranh chấp nên anh Ph không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị Đ không có ý kiến.

* Tại phiên tòa:

- Anh Ph và chị Đ: Vắng mặt - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay phía nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Phía bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Huỳnh Văn Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Bùi Thị Đ là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Khi anh Ph khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án giải quyết thì chị Đ có nơi cư trú cuối cùng tại ấp X.I, xã Th.H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Qua yêu cầu của đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với chị Đ nhưng chị Đ đều vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trường hợp vắng mặt của chị Đ không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và anh Ph có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Ph và chị Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ph và chị Đ chung sống với nhau từ năm 2000, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ.H và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/12/2004 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của anh Ph về việc ly hôn với chị Đ, HĐXX xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Ph cho rằng sau khi kết hôn và qua thời gian chung sống thì chị Đ ham mê cờ bạc và có mối quan hệ với người đàn ông khác. Anh đã cho chị Đ nhiều cơ hội nhưng chị Đ không sửa đổi nên anh chị đã ly thân từ năm 2015 đến nay không còn liên lạc với nhau. Qua xác minh tại nơi cư trú, cho thấy trong quá trình chung sống giữa anh Ph và chị Đ thường xuyên cự cãi, vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm, không hạnh phúc và đã ly thân nhiều năm nay là đúng.

Đồng thời, sau khi Tòa án thụ lý và Tòa án đã tiến hành triệu tập chị Đ nhiều lần để hòa giải nhằm động viên anh chị trở về chung sống, tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng chị Đ luôn vắng mặt, không có ý kiến gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của chị đối với yêu cầu của anh Ph.

Mặc khác, theo như anh Ph trình bày anh và chị Đ đã ly thân từ năm 2015 đến nay nhưng anh chị không có liên lạc với nhau nên tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được, không tới lui để quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau là anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu của anh Ph và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cho anh Ph được ly hôn với chị Đ.

[3] Về quan hệ con chung: Anh Ph xác nhận, anh và chị Đ có 01 con chung là cháu Huỳnh Nhĩ Kh, sinh ngày 26/12/2001. Hiện nay cháu Kh đã trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Ph xác nhận, trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và không có phát sinh nợ chung nên anh không yêu cầu giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Nhưng sau khi ly hôn, trường hợp có phát sinh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Ph và chị Đ thì anh chị vẫn có nghĩa vụ liên đới.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Ph phải chịu án phí ly hôn số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Huỳnh Văn Ph được ly hôn với chị Bùi Thị Đ.

 2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Huỳnh Văn Ph chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu 0007774 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Anh Ph đã nộp án phí xong.

3/ Quyền kháng cáo: Anh Ph và chị Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


2
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2020/HNGĐ-ST ngày 26/08/2020 về ly hôn

Số hiệu:51/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Minh - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về