Bản án 51/2019/HSST ngày 15/07/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN  HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 51/2019/HSST NGÀY 15/07/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 15 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2019/HSST ngày 19/6/2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST-HS ngày 01/7/2019; đối với bị cáo:

KHÊ CHÂU N, Sinh năm 1993; Nơi sinh: T, H, Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn R, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Cha: Khê N, Mẹ: Mã Thị T ; Vợ: Thông Thị D ; Con: có 02 con, lớn nhất 06 tuổi và nhỏ nhất 02 tuổi;Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện H từ ngày 27/5/2019. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Mai Văn T, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Thông Minh Q, sinh năm 2000 (có mặt)

2. Chị Thông Thị D, sinh năm 1996 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn R, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người làm chứng:

1. Anh Lê Duy T, sinh năm 1991 (vắng mặt)

2. Anh Võ Tấn H, sinh năm 1990 (vắng mặt)

3. Anh Trần Đình T, sinh năm 1994 (vắng mặt)

4. Anh Hồ Thanh T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Q, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

5. Anh Phạm Thanh M, sinh năm 1977 (vắng mặt)

6. Anh Huỳnh Minh H, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

7. Anh Thông Minh Q, sinh năm 2000 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn R, xã T, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 09/3/2019, Mai Văn T, sinh năm 1990, Lê Duy T, sinh năm 1991, cùng ở thôn Q, xã S cùng nhau đến thôn L, xã Y xem đá gà. Tại đây, giữa Lê Duy T và Khê Châu N, sinh năm 1993, thôn R, xã T xảy ra cãi nhau, được Mai Văn T can ngăn rồi cùng Lê Duy T ra về. Trên đường về đến khu vực Ngã ba 21, thuộc thôn P, xã T Mai Văn T và Lê Duy T vào quán Cà phê “Bình Minh” của anh Phan Thanh M để uống nước, được khoảng 05 phút thì Lê Duy T về trước, Mai Văn T ở lại.

Riêng, Khê Châu N sau đó cũng từ Y về nhà lúc khoảng 12 giờ 30 phút lấy 02 cây đao, mỗi cây dài khoảng 60cm điều khiển xe mô tô chở Thông Minh Q, sinh năm 2000 ở cùng thôn đến khu vực Ngã ba 21 tìm Lê Duy T để đánh. Thấy Mai Văn T trong quán Cà phê “Bình Minh”, Khê Châu N dừng xe, lấy 01 cây đao vào quán hỏi: “Thằng T đâu?” Mai Văn T không nói gì, Khê Châu N tiếp tục hỏi: “Hồi nãy mày chỉ mặt tao cái gì?” Đồng thời, xông đến chém 02 cái, Mai Văn T đưa giỏ đựng gà lên chống đỡ nên bị bầm tím, trầy xước da. Khi Khê Châu N ra khỏi quán, thì Mai Văn T đứng dậy đi theo ra ngoài chưởi nhại tiếng dân tộc Chăm, Khê Châu N quay lại nói: “Đ.M tao nói được là tao làm được”, rồi xông vào dùng đao chém 01 cái vào cẳng tay phải Mai Văn T gây thương tích, được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận cấp cứu và điều trị thương tích, Khê Châu N bỏ về.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/2019/TgT ngày 01/4/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận, kết luận về thương tích của Mai Văn T như sau:

- Vết thương mặt sau giữa cẳng tay phải, đứt cân cơ và gân duỗi ngón II, III, IV, V bàn tay phải, gãy xương trụ cẳng tay phải đã được phẫu thuật nối gân duỗi. Hiện cổ tay phải hạn chế cử động gấp, duỗi, xoay cổ tay và các ngón II, III, IV, V hạn chế cử động gấp ngón do đau, ngón I bàn tay phải hạn chế cử động duỗi ngón, hiện để lại vết thương dài 6,5cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 10%+6%.

- Mặt sau ngoài cánh tay trái có 02 vết sẹo mờ:

+ Vết 01, kích thước: 9 x 0,2cm;

+ Vết 02 kích thước: 8,5 x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%+1%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 17%.

- Các vết thương do vật sắc gây ra.

- Các vết thương có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

- Hiện hạn chế vận động gấp, duỗi, xoay cổ tay phải.

Vật chứng vụ án: 01 cây đao sau khi dùng chém Mai Văn T gây thương tích, Khê Châu N đã vứt bỏ dưới chân cầu Treo của sông Cái cùng 01 cây đao khác, không thu giữ được.

Đối với xe mô tô, biển số 86B3-212.76 là tài sản chung của vợ chồng, Thông Thị D không biết chồng là Khê Châu N làm phương tiện thực hiện tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ.

Riêng, 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Khê Châu N dùng đao chém Mai Văn T ngày 09/3/2019, tại thôn P, xã T, chuyển theo cùng hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Mai Văn T yêu cầu bồi thường: Chi phí điều trị thương tích 8.673.204 đồng, tiền mất thu nhập 300.000đồng/ngày x 60 ngày = 18.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng. Tổng số tiền là: 36.674.204 đồng, gia đình Khê Châu N đã bồi thường 15.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 55/CT/VKSHTB-HS ngày 19/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố Khê Châu N về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra. Xác định Viện Kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không có thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Khê Châu N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Khê Châu N từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo Khê Châu N và bị hại Mai Văn T như sau:

Bị cáo Khê Châu N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Mai Văn T tổng số tiền tổn thất tinh thần, tiền thuốc điều trị, tiền mất thu nhập là: 36.674.204đồng, gia đình Khê Châu N đã bồi thường và bị hại Mai Văn T đã nhận 15.000.000 đồng, số tiền còn lại là 21.674.204đồng (hai mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi bốn ngàn hai trăm lẻ bốn đồng) bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là sai mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm ra tù về nuôi 02 con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều khoản áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Khê Châu N khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong việc xem đá gà giữa Khê Châu N, Lê Duy T và Mai Văn T trước đó. Đến 12 giờ 45 phút ngày 09/3/2019, Khê Châu N dùng đao, dài khoảng 60cm chém trúng cẳng tay phải của Mai Văn T gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 17%.

Bị cáo Khê Châu N sử dụng đao là vật sắc, bén tác động trực tiếp vào cơ thể người khác là dùng hung khí nguy hiểm, nguyên nhân mâu thuẫn nhỏ nhặt trong việc xem đá gà nhưng xâm phạm đến sức khỏe của người khác là thể hiện tính côn đồ hung hãn - Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Cùng với tỷ lệ tổn thương cơ thể mà bị cáo gây ra đối với bị hại là 17%. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy đinh: “1. “Người nào c ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11%) nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

i) Có tính chất côn đồ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Khê Châu N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng đạo đức để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình - xã hội. Mặc dù, bản thân bị cáo nhận thức được việc dùng đao tác động vào cơ thể người khác sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng, tuy nhận thức rõ điều này nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, để mặc hậu quả xảy ra. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm là cần thiết, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cần phải xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử, xét vợ bị cáo là Thông Thị D đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 15.000.000đồng nên được xem như bị cáo bồi thường, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên số tiền bồi thường không bằng ½ số tiền mà bị hại yêu cầu nên Hội đồng xét xử không áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát mà chỉ áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, thảnh khẩn khai báo, được bị hại bãi nại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hách nhiệm hình sự, xét thấy mức hình phạt mà đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra là hoàn toàn phù hợp nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định khi lượng hình.

[6] Về xử lý vật chứng : Đối với 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Khê Châu N dùng đao chém Mai Văn T ngày 09/3/2019, tại thôn P, xã T tiếp tục tạm giữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 cây đao sau khi dùng chém Mai Văn T gây thương tích, Khê Châu N đã vứt bỏ dưới chân cầu Treo của sông Cái cùng 01 cây đao khác, không thu giữ được và 01 xe mô tô, biển số 86B3-212.76 là tài sản chung của vợ chồng, Thông Thị D không biết chồng là Khê Châu N làm phương tiện thực hiện tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ, nên Tòa không xem xét, giải quyết.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Mai Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường: Chi phí điều trị thương tích 8.673.204 đồng, tiền mất thu nhập 300.000đồng/ngày x 60 ngày = 18.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng. Tổng số tiền là: 36.674.204đồng, gia đình Khê Châu N đã bồi thường 15.000.000 đồng, số tiền còn lại là 21.674.204đồng yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo Khê Châu N tự nguyện đồng ý thỏa thuận theo yêu cầu của bị hại thống nhất mức bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 36.674.204đồng. Xét việc thỏa thuận giữa bị cáo với người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên công nhận. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền  15.000.000đồng. Số tiền còn lại là 21.674.204 đồng bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

[8] Về những vấn đề khác:

Đối với Thông Minh Q tuy cùng Khê Châu N đến quán Cà phê “Bình Minh” nhưng không biết Khê Châu N có mục đích tìm đánh Lê Duy T. Ngoài ra, trước và trong lúc Khê Châu N dùng đao chém Mai Văn T, thì Thông Minh Q cũng không có hành vi giúp sức nào khác. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý Thông Minh Q là đồng phạm trong vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện H không truy tố là phù hợp nên Tòa không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.084.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguời có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố: Bị cáo Khê Châu N phạm tội “Cố ý gây thuơng tích”.

Xử phạt: Khê Châu N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015; các Điều 584, Điều 585, Điều 590 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Khê Châu N và bị hại Mai Văn T như sau:

Bị cáo Khê Châu N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Mai Văn T tổng số tiền tổn thất tinh thần, tiền thuốc điều trị, tiền mất thu nhập là: 36.674.204đồng, gia đình Khê Châu N đã bồi thường và bị hại Mai Văn T đã nhận 15.000.000 đồng, số tiền còn lại là 21.674.204đồng (hai mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi bốn ngàn hai trăm lẻ bốn đồng) bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Khê Châu N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.084.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/7/2019).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

131
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2019/HSST ngày 15/07/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:51/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Thuận Bắc - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về