Bản án 51/2019/HSST ngày 03/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 51/2019/HSST NGÀY 03/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 03 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2019/HSST ngày 10 tháng

4 năm 2019 đối với bị cáo:

Quàng Văn T; tên gọi khác: Không;   sinh ngày 26 tháng 9 năm1989 tại xã Tông Cọ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Bản B, xã Tông Cọ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông Quàng Văn S, sinh năm 1952 và bà Quàng Thị Ch, sinh năm 1952; vợ là Lù Thị D, sinh năm 1995 và có 02 con, lớn nhất  03  tuổi,  nhỏ  nhất  01  tuổi;  tiền  án,  tiền  sự:  Không;  bắt  tạm giam từ  ngày

07/01/2019 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi liên quan: ông Quàng Văn S, sinh năm 1952, trú tại: Bản

B, xã Tông Cọ, huyệnThuận Châu, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 07/01/2019, Quàng Văn T điều khiển xe máy một mình từ nhà ở Bản Phé B, xã Tông Cọ, huyện Thuận Châu lên bản Thôm, xã Thôm Mòn để

tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến khu vực bản Thôm, Thôm Mòn thì T gặp và  mua được của một người phụ nữ dân tộc Thái (T không biết tên và địa chỉ ở đâu) 01(Một) gói ma túy, gói bằng ni lon màu trắng với gía 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cất gói ma túy vừa mua được vào trong vành mũ lưỡi chai màu đen T đang đội rồi điều khiển xe máy đi về đến bản Nà Hày, xã Thôm Mòn thì bị tổ công tác Công an huyện Thuận Châu bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: 01(Một) gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine (Quàng Văn T khai nhận là Heroine); 01(Một) mũ lưỡi chai màu đen đã qua sử dụng; 01( Một) chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn trắng nâu, không có BKS, xe không có mặt nạ trước, số khung ; số máy không xác định, xe đã qua sử dụng. (Ba khoản).( BL: 37 – 38).

Hồi 17 giờ 50 phút, ngày 07/01/2019 ; tại Phòng PC 09 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số bột màu trắng nghi là Heroine có trong  gói ni lon màu trắng thu giữ của Quàng Văn T có khối lượng là 0, 11g (Không phẩy mười một gam), trích rút toàn bộ 0,11 g làm mẫu gửi giám định chất ma túy ký hiệu T1. Tại kết luận giám định số: 207/KLMT ngày 11/01/2019 của Phòng PC 09 Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy, loại chất Hêrôine”, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ 0, 11 gam, loại chất Hêrôine (Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 trong quá trình giám định đã sử dụng hết). (BL: 23,25).

Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định...

Bản cáo trạng số 52/CT- VKS ngày 09-4-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 07-01-2019 (là ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo).

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Áp dụng Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

- Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong có viền xanh đỏ, ngoài ghi: Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn T – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày

07-01-2019; 01(Một) mảnh ni lon màu trắng; 01(Một) vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu; 01 mũ lưỡi chai màu đen đã qua sử dụng cũ.

- Trả cho ông Quàng Văn S 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn trắng nâu, không có BKS, xe không có mặt nạ trước, số khung, số máy không xác định, xe đã qua sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Tại phiên toà, người có quyền lợi liên quan có ý kiến: ông Quàng Văn S không biết việc bị cáo sử dụng xe máy để đi mua ma tuý, gia đình ông không có phương tiện đi lại nên ông đề nghị Hội đồng xét xử cho xin lại xe máy.

Lời nói sau cùng của bị cáo Quàng Văn T: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay bị cáo đã thực sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi tàng trữ trái phép là 0,11 gam heroine của bị cáo Quàng Văn T nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

 “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………………………….

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11

có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……………………………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

 [3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm đối với bị cáo Quàng Văn T.

[4] Xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy mà vẫn cố ý phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ ma túy với số lượng ít, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

[6] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự

[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo

[8] Về vật chứng:

Đối với 01(Một) mảnh ni lon màu trắng; 01(Một) vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu và 01 mũ lưỡi chai màu đen đã qua sử dụng cũ là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và hết giá trị sử dụng, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn trắng nâu, không có BKS, xe không có mặt nạ trước, số khung, số máy không xác định, xe đã qua sử dụng. Qua điều tra và tại phiên toà xác định là chiếc xe thuộc sở hữu của ông Quàng Văn S, sinh năm 1952, trú tại : Bản Phé B – xã Tông Cọ - huyệnThuận Châu (là bố đẻ của T). Ông S không biết việc T sử dụng xe đi mua ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử cho ông xin lại xe máy để đi nương. Cần áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại xe cho ông S

[9] Đối với người phụ nữ dân tộc Thái (T không biết tên và địa chỉ ở đâu) là người Quàng Văn T khai đã bán ma túy cho T vào ngày 07/01/2019. Do T không biết tên và địa chỉ của người phụ nữ đó nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu không có căn cứ để điều tra xử lý là có căn cứ, cần chấp nhận

[10] Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày  30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt:

Áp dụng  điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Quàng Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 07-01-2019 ( là ngày bắt giam giữ bị cáo ).

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

- Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong có viền xanh đỏ, ngoài ghi: Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn T – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 07-01-2019; 01(Một) mảnh ni lon màu trắng; 01(Một) vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu; 01 mũ lưỡi chai màu đen đã qua sử dụng cũ.

- Trả cho ông Quàng Văn S 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn trắng nâu, không có BKS, xe không có mặt nạ trước, số khung, số máy không xác định, xe đã qua sử dụng.

4. Án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày  30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

5. Quyền kháng cáo

Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS năm 2015 báo cho bị cáo Quàng Văn T được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi liên quan Quàng Văn S có quyền kháng cáo phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2019/HSST ngày 03/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:51/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về