Bản án 51/2019/HNGĐ-ST ngày 30/10/2019 về hôn nhân gia đình 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 51/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/10/2019 VỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 

Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐXX-ST ngày 30 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm 1972- Có mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976- vắng mặt.

Đều địa chỉ: Thôn T 1, xã T, huyện H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 17/9/2018, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn (anh Trần Văn M) trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn có được tự do, tự nguyện tìm hiểu, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày tháng cụ thể anh không nhớ do đã bị mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nhưng vào năm 1994. Sau khi kết hôn, chị T về nhà anh làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình anh. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng ban đầu hạnh phúc, đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T ngoại tình, chị T đã nhiều lần bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Anh đã rất nhiều lần khuyên bảo, hàn gắn hạnh phúc vợ chồng nhưng không thành. Hai vợ chồng đã sông ly thân từ năm 2005 đến nay, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, không còn quan tâm gì đến nhau. Mâu thuẫn cũng đã được các đoàn thể địa phương và hai bên gia đình động viên hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị T không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

- Về con chung: Anh M xác định vợ chồng có 02 con chung là: Trần Văn B, sinh ngày 20/3/1994 và Trần Văn T, sinh ngày 10/01/1997, hiện cả 02 con chung của vợ chồng đều đã trưởng thành, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con chung của vợ chồng.

- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn (chị Nguyễn Thị T): Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi ý kiến, văn bản đến Tòa án, vì vậy không có lời khai trong hồ sơ.

Tòa án đã trực tiếp cùng với địa phương về làm việc tại gia đình nhưng chị T vắng mặt. Địa phương xác định hiện nay chị T đang đi làm ăn ở bên ngoài không thường xuyên có nhà còn làm việc gì, địa chỉ cụ thể ở đâu địa phương không biết nhưng vẫn thỉnh thoảng về thăm nhà tại thôn T 1, xã T sau đó lại đi luôn. Địa phương xác định chị T không đi hẳn khỏi địa phương, vẫn thấy có mặt tại địa phương. Công an xã Tđã có lần gọi điện trực tiếp thông báo cho chị T biết về việc anh M có đơn xin ly hôn chị T và Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đang giải quyết vụ án, chị T nói có biết việc Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đang giải quyết yêu cầu ly hôn của anh M nhưng do chị T bận việc nên chưa đến Tòa án để làm việc được.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án cơ bản đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Về án phí: Anh Trần Văn M phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001043 ngày 02/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận anh M đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 17/9/2018 của anh Trần Văn M đây xác định là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị T là bị đơn đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Qua xác minh tại địa phương và gia đình cung cấp, hiện chị T vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn T 1, xã T, huyện Hiệp Hòa, chị T đi làm ăn ở bên ngoài địa phương, không r địa chỉ cụ thể nhưng chị T không đi hẳn khỏi địa phương và biết việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc ly hôn giữa anh M và chị T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 và điểm b khoản 2 §iÒu 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn có tên nêu trên.

[2]. Về quan hệ tranh chấp:

[2].1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận, anh M xác định có đăng ký kết hôn tại UBND xã T năm 1994 nhưng đã đánh mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; UBND xã Txác định không còn lưu giữ được sổ đăng ký kết hôn gốc của năm 1992-1994 nhưng xác nhận anh M và chị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[2].2. Xét yêu cầu về việc xin ly hôn của anh M thấy rằng: Qua các chứng cứ do các bên xuất trình, lời khai của người làm chứng được biết: Vợ chồng anh M, chị T từ khi kết hôn đã có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng tình cảm vợ chồng đã không duy trì phát triển được, năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn. Xuất phát từ việc hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, chị T có quan hệ ngoại tình nên vợ chồng hay cãi nhau. Mâu thuẫn cũng được hai bên gia đình động viên hòa giải nhưng không cải thiện được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2005 đến nay và đã chấm dứt quan hệ tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Anh M có đơn xin ly hôn, chị T biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ việc nhưng không đến Tòa án làm việc theo triệu tập và thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến phản hồi gì. Địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho anh M được ly hôn chị T theo quy định của pháp luật. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh M và chị T đã phát triển trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng điều 56 của Luật hôn nhân gia đình để giải quyết cho anh M được ly hôn chị T là phù hợp, cho nên yêu cầu xin ly hôn của anh M cần được chấp nhận.

[2].3. Về con chung: Anh M và địa phương xác định vợ chồng anh M, chị T có 02 con chung là: Trần Văn B, sinh ngày 20/3/1994 và Trần Văn T, sinh ngày 10/01/1997, hiện cả 02 con chung của vợ chồng đều đã trưởng thành, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con chung, vì vậy không xem xét giải quyết.

[2].4. Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không xem xét giải quyết trong vụ án.

[2].5. Về án phí: Anh Trần Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Về án phí: Anh Trần Văn M phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001043 ngày 02/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận anh M đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2019/HNGĐ-ST ngày 30/10/2019 về hôn nhân gia đình 

Số hiệu:51/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về