Bản án 50/2019/HS-ST ngày 26/04/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 50/2019/HS-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 26 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo:

1 - Ngô T, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1985 tại thành phố Tuyên Quang; nơi cư trú: Số nhà 658, tổ 04, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc nam; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô N (đã chết) và bà Tạ T (sinh năm 1957); có vợ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1987) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/02/2009 Công an thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc bằng hình thức phạt tiền (500.000đồng); Ngày 11/10/2010 Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc bằng hình thức phạt tiền (5.500.000đồng); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2019 đến ngày 24/01/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thành phố T. Có mặt.

2 - Nguyễn T2, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1971 tại thành phố Tuyên Quang; nơi cư trú: Số nhà 204, tổ 09, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V (sinh năm 1945) và bà Nguyễn TH (đã chết); có vợ là Nguyễn NH (sinh năm 1981) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thành phố Tuyên Quang. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1980

Địa chỉ: Tổ 5, khu 4, B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

- Chị Trần Thị H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ 03, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

- Anh Bùi Quang H2, sinh năm 1971

Địa chỉ: Tổ 03, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

- Anh Đặng T3, sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ 03, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

(Những người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 15/01/2019 đến ngày 18/01/2019, Ngô T, Nguyễn T2 cùng Nguyễn Thị Ng, Trần Thị H, Bùi Quang H2, Đặng T3 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề trái phép với nhau, được thua bằng tiền, hình thức đánh bạc là căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc vào hồi 18 giờ 15 phút hàng ngày để trả tiền, cụ thể như sau:

Đánh số đề (mua số đề) là người đánh tự chọn hai số từ 00 đến 99, đánh với mức tiền bao nhiêu tuỳ ý, khi có kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc, nếu hai số của người đánh trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người đánh trúng số đề (thắng bạc) và được trả gấp 70 lần số tiền đã đánh.

Đánh số 3 càng (mua số 3 càng) là người đánh tự chọn cặp số có ba số, đánh với mức tiền bao nhiêu tuỳ ý, khi có kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc, nếu cặp số của người đánh trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì người đánh trúng số và được trả gấp 350 lần số tiền đã đánh.

Đánh lô điểm (mua lô điểm) là tự chọn các số từ 00 đến 99 với mức tiền 22.500đ/1 điểm, khi có kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc, nếu hai số của người đánh trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào trong các giải thì người đánh trúng số lô (thắng bạc) và được trả 80.000đồng/1 điểm lô. Nếu cặp số của người đánh trùng với hai số của nhiều giải thì được trả tương ứng với số lần trùng số (trùng số hai lần thì nhân gấp hai lần, trùng số ba lần thì nhân gấp ba lần, …).

Các bị cáo T, T2 và Ng, H, H2, T3 đánh bạc với nhau bằng cách soạn tin nhắn trên điện thoại di động và nhắn ghi các số lô, số đề, số tiền đánh rồi gửi tin nhắn vào điện thoại của bị cáo Tiến (số điện thoại 0852575898), cụ thể:

- Ngày 15/01/2019: Ngô T dùng điện thoại di động số 0852575898 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của Nguyễn Thị Ng (số điện thoại 0912925469) để đánh (mua) 01 cặp số 3 càng = 100.000đồng với Ng. Tiến không trúng số. 

- Ngày 16/01/2019: Ngô T dùng điện thoại di động số 0852575898 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của Nguyễn Thị Ng (số điện thoại 0912925469) để đánh (mua) 02 cặp số 3 càng = 120.000đồng; 04 số đề = 300.000đồng với Ng. Tổng số tiền T đánh bạc với Ng là 420.000đồng. T không trúng số.

Cùng ngày, Bùi Quang H2 cũng dùng điện thoại di động số 0986760378 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của T (0852575898) để đánh (mua) số lô, số đề với T:

+ Lô điểm: 03 số = 30 điểm x 22.500đồng/1 điểm = 675.000đồng

+ Số đề: 06 số = 200.000đồng

Tổng số tiền H2 đánh bạc với Tiến là 875.000đồng. H2 đã trúng số lô 94, 95, 97 với số tiền 3.200.000đồng.

Như vậy tổng cộng số tiền H2 đánh bạc với T là: 875.000đồng + 3.200.000đồng = 4.075.000đồng.

Tổng cộng số tiền mà T đã đánh bạc với Ng và H2 là: 420.000đồng + 4.075.000đồng = 4.495.000đồng.

- Ngày 17/01/2019: Ngô T dùng điện thoại di động số 0852575898 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của Nguyễn Thị Ng (số điện thoại 0912925469) để đánh (mua) 04 số đề = 300.000đồng với Ng. T không trúng số.

Cùng ngày, Nguyễn T2 dùng điện thoại di động số 0936843364 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của T (0852575898) để đánh (mua) số lô, số đề với T:

+ Lô điểm: 20 số = 400 điểm x 22.500đồng/1 điểm = 9.000.000đồng

+ Số đề: 60 số = 1.200.000đồng

Tổng số tiền T2 đánh bạc với T là 10.200.000đồng.

Tùng đã trúng số lô 27, 37, 87, 33, 55 với số tiền 8.000.000đồng.

Tổng cộng số tiền mà T2 đã đánh bạc với T là: 10.200.000đồng + 8.000.000đồng = 18.200.000đồng.

Cùng ngày 17/01/2019, Bùi Quang H2 dùng điện thoại di động số 0986760378 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của T (0852575898) để đánh (mua) số lô, số đề với T:

+ Lô điểm: 03 số = 30 điểm x 22.500đồng/1 điểm = 675.000đồng

+ Số đề: 06 số = 200.000đồng

Tổng số tiền H2 đánh bạc với T là 875.000đồng. H2 đã trúng số lô 52, 56 với số tiền 1.600.000đồng.

Như vậy tổng cộng số tiền H2 đánh bạc với T là: 875.000đồng + 1.600.000đồng = 2.475.000đồng.

Trong ngày 17/01/2019, Trần Thị H cũng dùng điện thoại di động số 0866488236 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của T (0852575898) để đánh (mua) số đề với T: 01 số đề = 30.000đồng. H không trúng số. 

=> Tổng cộng số tiền mà T đã đánh bạc với T2, H2, Ng và H trong ngày 17/01/2019 là: 300.000đồng + 18.200.000đồng + 2.475.000đồng + 30.000đồng = 21.005.000đồng.

- Ngày 18/01/2019: Bùi Quang H2 dùng điện thoại di động số 0986760378 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của T (0852575898) để đánh (mua) số lô, số đề với T:

+ Lô điểm: 02 số = 20 điểm x 22.500đồng/1 điểm = 450.000đồng

+ Số đề: 06 số = 120.000đồng

Tổng số tiền H2 đánh bạc với Tiến là 570.000đồng.

Cùng ngày, Trần Thị H cũng dùng điện thoại di động số 0866488236 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của T (0852575898) để đánh (mua) số đề với T: 10 số đề = 180.000đồng.

Và Đặng T3 dùng điện thoại di động số 0975748999 gửi tin nhắn vào số điện thoại di động của T (0852575898) để đánh (mua) số lô, số đề với T: 02 số đề = 400.000đồng.

Như vậy tổng cộng số tiền T đánh bạc với H2, H và T3 trong ngày 18/01/2019 là: 570.000đồng + 180.000đồng + 400.000đồng = 1.150.000đồng.

Ngày 18/01/2019 việc bán lô, đề của T bị phát hiện và ngăn chặn trước giờ mở thưởng nên không tính kết quả thắng, thua.

Trong thời gian từ ngày 15/01/2019 đến ngày 18/01/2019, bị cáo Ngô T và bị cáo Nguyễn T2 đã thanh toán cho nhau số tiền đánh bạc; còn số tiền đánh bạc giữa bị cáo T với Bùi Quang H2, Trần Thị H, Nguyễn Thị Ng, Đặng T3 chưa thanh toán với nhau.

Bản cáo trạng số 55/CT-VKSTP ngày 09/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Kết thúc tranh luận tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2 phạm tội Đánh bạc. Áp dụng: Khoản 1, khoản 3, Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự. Áp dụng thêm Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T; áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T2.

- Xử phạt bị cáo Ngô T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 06 ngày tạm giữ từ 18/01/2019 đến 24/01/2019. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn T2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T2 cho UBND phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang - nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1, điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Phạt tiền mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu bạc, đã cũ; imei 358362060016286 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310, vỏ màu trắng xanh, đã cũ; imei 3358573085353138.

Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại Vinaphone và 01 sim điện thoại Viettel.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 10.500.000đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Ngô T và số tiền 8.000.000đồng (Tám triệu đồng) của bị cáo Nguyễn T2.

- Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa và đều nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để cải tạo trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh số lô, số đề trái phép là vi phạm pháp luật, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương. Tại phiên tòa, các bị cáo khai về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. HĐXX thấy có đủ căn cứ kết luận: Ngày 17/01/2019 các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép với số tiền: Bị cáo T đánh bạc 21.005.000đồng, bị cáo T2 đánh bạc 18.200.000đồng. Do đó, bản cáo trạng số 55/CT-VKSTP ngày 09/4/2019 của VKSND thành phố Tuyên Quang truy tố các bị cáo về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo T và T2 đều đã thành khẩn khai báo; tại phiên toà các bị cáo đều tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể. Vì vậy, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy: Bị cáo Ngô T có nhân thân xấu (đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc) và có vai trò tích cực hơn, bị cáo là người làm chủ đề, tự bán số lô, số đề và trả thưởng nên cần áp dụng mức án tù tương xứng với tính chất, hành vi và nhân thân của bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn T2 là người mua số lô, số đề của bị cáo T, xét thấy bị cáo có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định (có xác nhận của chính quyền địa phương), đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên không cần phải bắt bị cáo T2 chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì bị cáo phải chịu hậu quả theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang đề nghị HĐXX áp dụng đối với từng bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

[3.3] Về hình phạt bổ sung: Để xử lý triệt để và công bằng đối với người bị kết án nhằm đạt được mục đích của hình phạt nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Đối với hành vi mua, bán số lô, số đề trái phép của Ngô T trong các ngày 15/01/2019, 16/01/2019 và ngày 18/01/2019 xác định số tiền đều dưới 5.000.000đồng nên Công an thành phố Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với T.

Trong vụ án này còn có Bùi Quang H2, Trần Thị H, Nguyễn Thị Ng và Đặng T3 là những người mua bán số lô, số đề trái phép với bị cáo T. Nhưng số tiền mua số lô, số đề và nhân thân của những người này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền. HĐXX thấy việc ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính như vậy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:

[5.1] Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu bạc, đã cũ; imei 358362060016286 bên trong có 01 sim Vinaphone của bị cáo Ngô T và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310, vỏ màu trắng xanh, đã cũ; imei 3358573085353138 bên trong có 01 sim Vietel của bị cáo Nguyễn T2. Các tài sản này đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại và tịch thu tiêu huỷ 02 sim điện thoại (Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

Đối với số tiền các bị cáo T và Tùng sử dụng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước. Cụ thể: Bị cáo T 10.500.000đồng, bị cáo T2 8.000.000đồng.

Việc mua số lô, số đề trái phép giữa bị cáo T với Bùi Quang H2, Trần Thị H, Nguyễn Thị Ng, Đặng T3 chưa thanh toán tiền với nhau và những người này đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

[5.2] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5.3] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3, Điều 321; điểm s, i khoản 1, Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự; Bị cáo Tiến áp dụng thêm Điều 38 Bộ luật hình sự; Bị cáo Tùng áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2 phạm tội Đánh bạc.

- Xử phạt bị cáo Ngô T 07 tháng tù, khấu trừ cho bị cáo 06 ngày tạm giữ (từ ngày 18/01/2019 đến ngày 24/01/2019). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Phạt tiền 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn T2 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/4/2019).

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo Nguyễn T2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1, điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (Nguyễn T2) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Phạt tiền 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước.

3. Căn cứ vào: Các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

3.1. Về vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu bạc, đã cũ; imei 358362060016286 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310, vỏ màu trắng xanh, đã cũ; imei 3358573085353138.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại Vinaphone và 01 sim điện thoại Viettel. (Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

- Truy thu để sung ngân sách nhà nước của bị cáo Ngô T số tiền10.500.000đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng); bị cáo Nguyễn T2 số tiền 8.000.000đồng (Tám triệu đồng).

3.2. Về án phí: Các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3.3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Ngô T và Nguyễn T2 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


92
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về